QUỐC HỘI LƯỠNG VIỆN HAY ĐƠN VIỆN? 

                      NGUYỄN HOC TẬP

 

I - Từ Đơn Viện đến Lưỡng Viện.

 

Năm 1066 hoàng tộc Norman từ lục địa Âu Châu, vượt eo biển Manche, quan chiếm ḥn đảo Anh Quốc ( Taswell Langsmead, English Constitutional History, II ed., Plucknett, London 1960).

Vua đặt quyền cai trị và luật lệ trên khắp tân vương quốc. Quyền lănh đạo gồm có vua và Hội Đồng Tư Vấn do vua tuyển chọn giúp vua trị nước.

Hàng năm các lănh chúa phải nộp thuế cho vua.

Không đầy hai thế kỷ sau, năm 1215,

   - các lănh chúa trong vương quốc,

   - các nam tước( baron) họp nhau tai Runnynmede, gần Windsor, cùng đồng ư kư Bản Đại Tuyên Ngôn các Quyền Tự Do ( Magna Charta Libertatum) để yêu sách đối với vua:

   - nếu vua muốn thu thế hơn mức đă được quy định trong những điều khoản đă được xác định, vua cần phải được sự thoả thuận của Đại Hội Đồng        ( Magnum Consilium) hay Hội Đồng Tư Vấn cũng vậy.

   - các nam tước cũng như những người dân tự do khác ( không phải là dân nô lệ), vua không được đem ra xử chỉ bằng thẩm phán đoàn của vua, mà phải được cả thẩm phán đoàn dân sự xét hỏi, thẩm định và tuyên án.

 

Dù sao th́ thành viên ban cố vấn giúp vua trị nước, Đại Hội Đồng hay Hội Đồng Tư Vấn, cũng là những nhân vật do vua trực tiếp chỉ định, gồm những lănh chúa cao cấp, các đấng bậc cao trọng trong giáo quyền.

Như vậy Hội Đồng Tư Vấn không có tính cách đại diện cho dân chúng như đặc tính Quốc Hội của chúng ta.

Hội Đồng Tư Vấn giúp vua bàn cải những vấn đề đối ngoại, lập pháp, thuế má hay phụ cấp, cứu xét các đơn từ, thỉnh nguyện, xét xử các vấn đề kiện tụng dân luật cũng như h́nh luật.

Một đàng từ ngày Bản Đại Tuyên Ngôn các Quyền Tự Do ra đời ( 1215), quyền hành của vua dần dần " bị đặt điều kiện", như ư nghĩa được ghi trên.

Đàng khác một vài lănh chúa ương ngạnh, lắm khi hành động bất cần sự chấp thuận của vua, như lănh chúa Simon de Montfort, vào năm 1265, bất cần vua, tự ư đứng ra triệu tập hai kỵ mă và hai thường dân ở mỗi thôn ấp ( borough) để thành lập Nhóm Tư Vấn riêng của lănh thổ ḿnh, quyết định mọi chuyện trong lănh thổ.

Trước t́nh trạng " bị đặt điều kiện" và vấn đề tài chánh bị Bản Đại Tuyên Ngôn các Quyền Tự Do bị cung cấp giới hạn trong lằn mức như vừa kể, nhà vua thấy thay v́ mỗi năm phải " ngửa tay ăn xin" các lănh chúa, vua có thể liên lạc trực tiếp với các cộng đồng địa phương, làng xă thôn ấp, có nguồn lợi trực tiếp dồi dào hơn và bảo đảm hơn ( Taswell Langsmead, id., 177).

 

Nhưng với sáng kiến vừa kể của vua, một viễn ảnh mới được phát hiện.

Một mặt các làng xă thôn ấp tuyên hứa bảo đảm cho ngân sách của vua khỏi thiếu hụt, nhưng với điều kiện là họ có quyền được cử người đại diện của họ vào ngồi họp chung với Hội Đồng Tư Vấn của vua, để bàn thảo, đạo đạt yêu sách và nhu cầu của họ trước mặt  vua.

Từ lúc đó, Hội Đồng Tư Vấn trở thành " nửa nạt, nửa mỡ ", gồm các lănh chúa và đấng bậc giáo quyền do vua chỉ định, nhưng dân chúng cũng tuyển cử đại diện của họ vào ngồi bên cạnh, để bàn cải, góp ư và quyết định phải chăng với vua.

Nói cách khác, Hội Đồng Tư Vấn trở thành một phần mang đặc tính dân cử.

Như vậy sự liên hệ giữa vua và làng xă thôn ấp được bắt đầu vào thế kỷ 13.

Làng xă thôn ấp tại địa phương là những đơn vị động lực phát triển kinh tế, bảo đảm liên tục cho ngân sách hoàng gia, với tổ chức tự trị về hành chánh của họ.

Và như vậy là đại diện của họ có mặt trong Hội Đồng Tư Vấn bên cạnh vua ở Westminster.

Từ thế kỷ 13, như vừa nói, họ đă cữ được người vào một loại " bán " ( semi) hay " tiền" ( pre) Quốc Hội, theo ư nghĩa Quốc Hội là cơ quan dân cử, tiếng nói đại diện cho dân chúng trong cộng đồng Quốc Gia, theo quan niệm của chúng ta.

 

Và rồi như chúng ta đều biết, ngân sách Quốc Gia bao giờ cũng thiếu hụt, nhà vua phải luôn luôn kêu cứu làng xă thôn ấp tăng thêm ngân khoản cho vua.

Lợi dụng lợi thế đó, làng xă thôn ấp đặt điều kiện với vua, mới chịu để trả thuế thêm cho, qua câu nói bất hũ mà trong nhiều bài viết khác trước đây chúng ta đă có dịp đề cập đến:

 

   - " No taxation,  without representation ! "

 

( Nếu nhà vua không chịu cho làng xă thôn ấp cử thêm người đại diện vào Hội Đồng Tư Vấn ( hay Đại Hội Đồng, Magnum Consilium), làng xă thôn ấp sẽ không chịu trả thuế thêm cho vua ).

Và rồi v́ " cái khó nó bó cái khôn ", để có đủ tiền trang trải cho ngân sách Quốc Gia, nhà vua phải đồng thuận cho làng xă thôn ấp dần dần cử thêm đại diện của họ vào Hội Đồng Tư Vấn.

Thành phần dân cử của Hội Đồng Tư Vấn được tăng thêm, tiếng nói của các lănh chúa và giáo quyền được vua trực tiếp tuyển chọn cũng yếu dân đi.

C̣n nữa, theo gương của Simon de Montfort, năm 1295 vua Edward I, muốn cho Hội Đồng Tư Vấn ( Quốc Hội " nửa nạt, nửa mỡ" ) của ḿnh có nhiều đại diện của từng lớp dân chúng, đứng ra triệu tập " Quốc Hội Kiểu Mẫu ",

gồm

   - thành phần các huân tước ( Lords),

   - các đấng bậc cao trọng trong tôn giáo ( hai thành phần nầy được vua trực tiếp chỉ định),

   - hai kỵ mă cho mỗi làng xă,

   - hai người dân tự do ( không phải nô lệ) cho mỗi thôn xóm và đại diện của cả các giáo sĩ hạ cấp.

Như vậy ảnh hưởng tiếng nói của thành phần trực tiếp được vua tuyển chọn trong " Quốc Hội Kiểu Mẫu " càng ngày càng yếu đi.

Các huân tước và các đấng bậc cao trọng trong tôn giáo không c̣n thấy hứng thú ǵ họp chung với " đám làng xă thôn ấp ", và v́ nhu cầu và lợi thú của mỗi bên cũng khác nhau. Do đó từ thế kỷ 14 trở đi, " Quốc Hội Kiểu Mẫu " tự chia thành hai nhóm, họp riêng rẻ,

   - Thượng Viện ( gồm các huân tước ( Lords) và giáo sĩ cao cấp),

   - Hạ Viện ( gồm nhóm đại chúng dân cử làng xă thôn ấp).

Và như vậy, chúng ta hiểu được tại sao Hạ Viện được người Anh gọi là Viện hay Toà Nhà của làng xă thôn ấp ( House of Commons).

 

Những ǵ vừa kể cho chúng ta thấy tinh thần Dân Chủ của người Anh được phát sinh ra trước Quốc Hội,

 

   - " No taxation, without representation ! "

 

Và rồi tiến tŕnh đ̣i hỏi Dân Chủ đó đă khiến Đại Hội Đồng hay Hội Đồng Tư Vấn biến thành Quốc Hội Lưỡng Viện, Thượng Viện của các huân tước và giáo sĩ cao cấp, Hạ Viện của thành phần dân chúng làng xă thôn ấp tuyển chọn.

 

II - Quốc Hội Lưỡng Viện nên có thế nào ?

 

Quốc Hội Lưỡng Viện được tiến tŕnh lịch sử đưa đẩy đến được thiết lập như vừa kể ở Anh Quốc, được nhiều Quốc Gia Âu Châu khác áp dụng măi cho đến cuối thế kỷ XVIII.

Cuộc Cách Mạng Pháp với chiến thắng của thành phần " Đệ Tam Quốc Gia" ( Troisième État ) đă đưa Quốc Hội Lưỡng Viện vừa kể lên máy chém để kết thúc cùng với thể chế quân chủ lúc đó ( 1791) ( Paolo Barile, Istituzioni di Diritto Pubblico, VIII ed., Cedam, Padova 1998, 189-192).

Tuy nhiên không lâu sau đó, Đại Hội Đồng Cách Mạng Pháp Quốc 1789 cũng cảm thấy nhu cầu cần phải tái lập lại Quốc Hội Lưỡng Viện,

   - Hạ Viện do dân cử

   - và Thượng Viện do Chính Quyền bổ nhiệm, có nhiệm vụ " lắng đọng và suy nghĩ thêm" những ǵ được Hạ Viện " chuẩn y hay bác bỏ", trước khi được chuyển đạt lên Tổng Thống duyệt xét và công bố.

 

1 - Quốc Hội Lưỡng Viện ở các Quốc Gia Liên Bang

Đồng thời Quốc Hội Lưỡng Viện cũng được phát sinh khắp đó đây trên thế giới, do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Ở các cựu thuộc địa Anh Quốc, trong công cuộc chống lại mẫu quốc Anh dành độc lập, thoạt tiên 13 Tiểu Bang Mỹ họp nhau với bản Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 và với Hiến Pháp Philadelphia 1787, thành Quốc Gia Liên Bang.

Hoàn cảnh của các Quốc Gia Liên Bang là hoàn cảnh thích hợp áp dụng phương thức Quốc Hội Lưỡng Viện.

Hạ Viện, là Viện đại diện cho dân chúng được phổ thông đầu phiếu tuyển chọn theo tùy theo tỳ lệ đa số dân chúng.

Thượng Viện là tiếng nói của các Tiểu Bang thành viên, có quyền ngang nhau, mỗi Tiểu Bang có được hai Thượng Nghị Sĩ, không quan trọng số lượng dân chúng nhiều hay ít.

Ở Âu Châu không những Anh Quốc, mà cả các Quốc Gia khác, nhứt là các Quốc Gia Liên Bang đều áp dụng Quốc Hội Lưỡng Viện:

   - Hạ Viện là tiếng nói của dân chúng trên toàn quốc,

   - Thượng Viện là tiếng nói của các Tiểu Bang thành viên, bênh vực quyền lợi của dân chúng địa phương và cũng là tiếng nói của dân chúng địa phương, nói lên lư tưởng, nhu cầu và ước vọng cho cả đất nước:

 

   - " Qua Thượng Viện ( Bundesrat), các Tiểu Bang ( Laender) cộng tác trong lănh vực lập pháp và hành chánh với Liên Bang ( Bund) ( Điều 50 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).  

 

   - " Thượng Viện được cấu trúc bằng các thành phần của Chính Quyền các Tiểu Bang, được Chính Quyền bổ nhiệm hay giải nhiệm. Các Thượng Nghị Sĩ cũng có thể chọn các thành viên khác của các Chính Quyền thay thế cho ḿnh.

   Mỗi Tiểu Bang có ít nhứt 3 lá phiếu ( ba Thượng Nghị Sĩ); các Tiểu Bang có trên hai triệu dân được 4 phiếu;  các Tiểu Bang có trên sáu triệu dân, có 5 phiếu; có trên 7 triệu dân, được 6 phiếu" ( Điều 51, đoạn 1 và 2, id.).

 

Không những vậy, để giải quyết t́nh trạng tê liệt của Chính Quyền bị Hạ Viện bất tín nhiệm, mà Hạ Viện cũng không có giải pháp nào khác để tháo gở, Tổng Thống có thể đồng thuận với Thượng Viện cho phép Chính Quyền tuyên bố " t́nh trạng lập pháp khẩn trương":

 

   - " Nếu trong trường hợp được điều 68 tiền liệu ( Hạ Viện bất tín nhiệm Thủ Tướng mà không có khả năng tuyển cử được người thay thế với đa số tuyệt đối các thành viên ), theo thể thức  " Lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" ( Konstruktive Misstrauensvvotum); nếu Hạ Viện không bị giải tán, Tổng Thống Liên Bang , theo lời đề nghị của Thủ Tướng, cùng với sự đồng thuận của Thượng Viện, tuyên bố t́nh trạng lập pháp khẩn trương ( notgebungsgericht ) cho một dự án luật, bị Hạ Viện bác bỏ, mặc dầu Chính Phủ Liên Bang đă tuyên bố là dự án luật khẩn cấp. Điều vừa kể cũng có giá trị đối với dự án luật bị bác bỏ, mặc dầu Thủ Tướng Liên Bang đă liên kết dự án đó đối với lời tuyên bố bất tín nhiệm được điều 68 tiền liệu".

 

  - " Nếu Hạ Viện khước từ một lần nữa dự án luật, sau khi t́nh trạng lập pháp khẩn trương được tuyên bố, hay chuẩn y bằng một văn mạch mà Chính Quyền không chấp nhận được, đạo luật được xem là đă được chuẩn y, nếu có sự đồng thuận của Thượng Viện. Điều vừa kể cũng được coi là có giá trị, nếu một dự án luật không được Hạ Viện chuẩn y trong ṿng bốn tuần lễ sau ngày đệ tŕnh" ( Điều 81, đoạn 1 và 2, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

Và rồi bất cứ một điều khoản luật liên bang nào, nếu muốn được "chuẩn y " và sau đó được ban hành với hiệu lực luật định, đều phải được Thượng Viện đồng thuận:

 

   - " Các luật lệ liên bang được Hạ Viện cứu xét. Sau khi được chuẩn y, đạo luật phải được Chủ Tịch Hạ Viện lập tức chuyển đến Thượng Viện" ( Điều 77, đoạn 1, id.).

 

Và như chúng ta biết thành viên của Thượng Viện là thành viên của  Chính Quyền các Tiểu Bang, bởi đó bất cứ một đạo luật nào có phương hại đến quyền lợi địa phương, quyền lợi các Tiểu Bang, chắc chắn sẽ bị Thượng Viện bác bỏ ( Điều 77, đoạn 3, id.).

Tiếng nói của Thượng Viện trong các Quốc Gia Liên Bang là tiếng nói, nói lên nhu cầu và ước vọng dân chúng địa phương, cũng như là tiếng nói của dân chúng cư ngụ tại một phần đất Quốc Gia, nói lên ư kiến, ước vọng của ḿnh cho lợi ích của cả Quốc Gia.

Dân chủ là vậy!

Dân chủ không phải chỉ là tiếng nói của Liên Bang ở trung ương ra lệnh, mà c̣n phải là tiếng nói của bất cứ người dân nào ở trên mọi phần đất của Quốc Gia cũng phải được lắng nghe, tiếng nói liên quan đến đời sống địa phương, cũng như liên quan đến lợi ích của cả Quốc Gia.

Chính Phủ Liên Bang không thể cấu kết với Hạ Viện Liên Bang ban hành nghị định, sắc luât, sắc lệnh cách nào tùy hỷ.

Bên cạnh Hạ Viện, c̣n có Thượng Viện, tiếng nói của các Tiểu Bang, tiếng nói của dân chúng địa phương.

 

 Ngoài ra trường hợp các Quốc Gia Liên Bang như Hoa Kỳ đă được đề cập, và Cộng Hoà Liên Bang Đức mà chúng tôi có dịp học hỏi, nhiều Quốc Gia Châu Mỹ La Tinh theo khuôn mẫu tổ chức của Hoa Kỳ, một số Quốc Gia Âu Châu khác, cũng như một vài Quốc Gia Á Châu, Cộng Hoà Liên Bang Sô Viết và các Quốc Gia theo khuôn mẫu, đều áp dụng phương thức Quốc Hội Lưỡng Viện.

 

2 - Quốc Hội Lưỡng Viện ở các Quốc Gia thuần nhứt.

Và không những chỉ các Quốc Gia Liên Bang áp dụng phương thức Quốc Hội Lưỡng Viện, mà cả nhiều Quốc Gia thuần nhứt ( unique) cũng lấy Quốc Hội Lưỡng Viện làm khuôn mẫu cho tổ chức Lập Pháp.

Ư Quốc chẳng hạn là một Quốc Gia thuần nhứt:

 

   - " Cộng Hoà Ư Quốc duy nhứt và bất khả phân chia; nhận biết và cổ vơ các nền tự lập địa phương; thực hiện các ngành phục vụ tùy thuộc Quốc Gia bằng phương thức quản trị tản quyền rộng răi hết sức có thể; hoà hợp các nguyên tắc và các phương thức lập pháp của ḿnh đáp ứng lại các nhu cầu tự lập và tản quyền" ( Điều 5, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

 

" Cộng Hoà Ư Quốc duy nhứt và bất khả phân chia..." vừa kể, sau một thời gian bàn cải xôi nổi, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ư Quốc quyết định

áp dụng phương thức Quốc Hội Lưỡng Viện cho Quốc Gia ḿnh.

Tuy nhiên các vị cũng không quên lưu ư áp dụng tinh thần " Thượng Viện " là tiếng nói địa phương cho cơ chế Quốc Gia:

 

   - " Thượng Viện Cộng Hoà được tuyển cử dựa trên nền tảng Vùng".

     Cách phân chia số ghế Thượng Nghị Sĩ giữa các Vùng, dựa trên các điều khoản vừa được đề cập, được thực hiện tùy theo tỳ lệ dân số trong Vùng, dựa trên cuộc kiểm tra dân số tổng quát sau cùng, theo phân số nguyên và tính theo phần cao nhứt " ( Điều 57, đoạn 1 và 4 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

 

Đọc điều khoản vừa kể chúng ta thấy Hiến Pháp 1947 Ư Quốc cũng áp dụng tinh thần tản quyền: Thượng Viện là tiếng nói của dân chúng địa phương để nói lên nhu cầu và ước vọng đối với các vấn đề địa phương, cũng như đối với cuộc sống chung của cả Quốc Gia; là hảm thắng, cắt tỉa, sữa chữa cũng như tu bổ, làm giàu thêm kiến thức cho đường lối chính trị Quốc Gia.

Như vậy, chúng ta hiểu được tầm quan trọng đó của Thượng Viện, Ư Quốc cũng như nhiều Quốc gia thuần nhứt ( unique) khác áp dụng Quốc Hội Lưỡng Viện.

Nhưng hiểu là một chuyện, có áp dụng đúng không là chuyện khác.

Hiến Pháp 1947 Ư Quốc có một quan niệm đúng đắn về vai tṛ của Thượng Viện, nên nêu lên tiêu chuẩn để bầu cử là

 

   - " Thượng Viện Cộng Hoà được tuyển cử dựa trên nền tảng Vùng..., tùy theo tỷ lệ dân chúng địa phương ( các Vùng ) ..." ( Điều 57, đoạn 1 và 4, id.),

 

th́ trái lại, cho đến nay v́ khả năng tổ chức cũng như phương tiện, Ư Quốc tổ chức tuyển chọn Hạ Viện và Thượng Viện đồng loạt nhau qua một cuộc phổ thông đầu phiếu duy nhứt.

Và như vậy cả hai Viện Quốc Hội đều được phô thông đầu phiếu tuyển cử, có quyền hạn y hệt nhau, thành ra Thượng Viện chỉ là một Hạ Viện thứ hai, được lập ra để " lắng đọng và suy nghĩ  thêm " , thay v́ là tiếng nói của dân chúng địa phương, được chính dân chúng ở mỗi địa phương đứng ra bầu cử.

Và rồi v́ là hai Viện Quốc Hội đồng nhứt rập khuôn như nhau, nên một dự án luật được thảo ra phải làm " con thoi " ( navetta) chạy qua chạy lại từ Viện nầy qua Viện kia và ngược lại, đi đi về về, lắm lược, làm trỉ trệ mọi quyết định Quốc Gia.

 

C̣n nữa, v́ muốn bảo đảm cho cuộc sống Quốc Gia không bao giờ thiếu một cơ quan tiếng nói dân cử đại diện, để giải quyết mọi vấn đề bất thường có thể xảy ra, các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 đă tiền liệu nhiệm kỳ của Hạ Viện là 5 năm và của Thượng Viện, 6 năm.

Nhưng thay v́ Hạ Viện do phổ thông đầu phiếu bầu ra, c̣n Thượng Viện do mỗi Vùng tổ chức, các nhà lănh đạo Ư đều tổ chức phổ thông đầu phiếu cho cả hai Viện.

Bởi đó, cuộc phổ thông đầu phiếu tuyển chọn Hạ Viện vừa xong mấy tháng trước, lại phải bắt đầu vận động, tổ chức trang bị lại để phổ thông đầu phiếu kế tiếp cho Thượng Viện. Phương thức hành xử thật tốn kém, tốn thời giờ và tốn công sức!

Bởi đó năm 1953 và 1958 Thượng Viện bị bắt buộc giải tán trước định kỳ, để cùng được bầu cử lại chung với Hạ Viện. Và kết quả là cả hai Viện đều có quyền hạn đồng nhứt rập khuôn và dự án luật bị bắt buộc làm " con thoi " đưa tới, đưa lui, tŕ tệ mọi công việc. 

Tu chính án Hiến Pháp được thực hiện sau đó, năm 1963  thiết định nhiệm kỳ của cả hai Viện Quốc Hội là 5 năm, như điều 60 hiện hành của Hiến Pháp 1947 ( Paolo Barile, id., 192).

 

Mặc cho Hiến Pháp 1947 Ư Quốc có được tu chính án 1963 sữa đổi, nhưng phương thức tuyển chọn phổ thông đầu phiếu cho Hạ Viện và khác biệt Thượng Viện do dân chúng Vùng đứng ra tuyển cử vẫn chưa được thực hiện.

Công việc Quốc Gia vẫn c̣n bị phương thức " dự án con thoi " áp đặt và tŕ trệ.

Các chuyên gia về luật học ở Ư đă nghĩ ra phương thức vá víu. Đó là thành lập các Ủy Ban Liên Viện Quốc Hội ( Commissioni Bicamerali), với thành viên gồm các Dân Biểu và Thượng Nghị Sĩ, được xác định tùy theo tỷ số lực lượng chính trị trong Lưỡng Viện Quốc Hội.

Các Ủy Ban Liên Viện Quốc Hội, mỗi Ủy Ban tùy theo lănh vực, sẽ thu nhận các yếu tố, thăm ḍ, bày tỏ ư kiến..., trước khi dự án luật được giao cho Viện nầy, rồi Viện kia điều tra, nghiêng cứu, bàn thảo và quyết định ( A. Manzella, Il Parlamento. Zanichelli, Bologna 1991, 221-228).

Cả hai Viện Quốc Hội đều phải thu thập dữ kiện, học hỏi, bàn thảo và quyết định riêng rẻ đối với vấn đề, như là lằn mức không thể vượt qua được Hiến Pháp 1947 quy định để tránh " Dân Chủ Tập Trung " độc tài, như ( Điều 6, Hiến Pháp 1992 CHXHCNVN):

 

   - " Mỗi dự án luật được đệ tŕnh lên một Viện Quốc Hội, theo các điều khoản luật được nội quy thiết định, được một Ủy Ban cứu xét, và được chính Viện Quốc Hội chuẩn y từng điều khoản một và với quyết định chung kết " ( Điều 72, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

 

Cũng vậy, Chính Phủ muốn chính danh hành xử quyền lực Quốc Gia phải được cả hai Viện Quốc Hội " chuẩn y " tín nhiệm, qua cuộc bỏ phiếu riêng biệt:

 

- " Chính Quyền phải được sự tín nhiệm của cả hai Viện Quốc Hội".

    Mỗi Viện Quốc Hội đồng  thuận tín nhiệm hay thu hồi, qua tiến tŕnh tố cáo có lư chứng và cuôc bỏ phiếu điểm danh từng mỗi thành viên"       ( Điều 94, đoạn 1 và 2, id.).

 

Thượng Viện

   - là Viện Quốc Hội " lắng đọng và suy nghĩ lại chính chắn hơn",

   - là tiếng nói của dân chúng địa phương ( Tiểu Bang hay Vùng),

   * nói lên nhu cầu và ước vọng liên quan đến các vấn đề địa phương,

   * mà cũng liên quan đến cuộc sống chung của đất nước,

   * là cơ chế hảm thắng, cắt tỉa, sữa chữa, định hướng và bổ túc thêm dồi dào đường lối chính trị Quốc Gia.

 

Cách hành xử " vá víu " như hiện trạng Ủy Ban Liên Viện Quốc Hội ở Ư, giải quyết được tốt đẹp khá nhiều vấn đề, nhưng chưa phát huy được vai tṛ tiếng nói Dân Chủ Địa Phương, cân bằng lại nhiều quyết định tùy hỷ, một chiều của Trung Ương, cho đến khi nào Thượng Viện chưa được chính người dân địa phương tuyển chọn, với cường độ và trương độ của tiếng nói đáp ứng lại tỷ lệ của thành phần dân số địa phương ( L. Califano -Placchi , Le Commissioni Bicamerali, Giuffré, Milano 1998, 134).

 

Quốc Hội Lưỡng Viện ở các Quốc Gia Liên Bang cũng như Quốc Gia thuần nhứt được tŕnh bày là những tư tưởng cho những ai đang nghĩ đến những ǵ tốt đẹp hơn cho Việt Nam.