|
LHQ
và vụ khủng hoảng Phật giáo 1963
Nguyễn
Văn Lục
T́m hiểu bản báo cáo của phái đoàn
điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ đàn áp Phật giáo 1963
Lời
giới thiệu ‒ Đây là một tập tài liệu (Report of
the United Nation Facts-Finding Mission to South Vietnam, UN
Doc A/5630 at 4 (1963) – DCVOnline) ghi
lại đầy đủ các lời khai của các nhân vật chủ chốt có liên quan
trực tiếp đến biến cố Phật giáo năm 1963. Thượng toạ (TT) Thích
Trí Quang, người lănh đạo tinh thần của Phật giáo năm 1963 trong
lời lời Giới thiệu tập tài liệu viết,
“Thực là một
tài liệu vô cùng quư giá để chúng ta hiểu thêm những bí ẩn chưa
bao giờ được tiết lộ, nhất là hiểu thêm được thực chất của những
người trong cuộc, về phía chính phủ Ngô Đ́nh Diệm cũng như về
phía Phật giáo đồ.”
Sài G̣n, ngày 1-11-năm 1965. (Trích lời giới thiệu tập tài liệu
Vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.)
Cũng theo TT Thích Trí Quang, sau này, bà Trần Lệ Xuân có phản
đối Liên Hiệp Quốc không công bố bản báo cáo của phái đoàn điều
tra LHQ để thế giới biết rơ sự thật.
Về phía Phật tử, theo TT Trí Quang th́ ân hận là không phổ biến
được sớm hơn.
Nhưng thực tế mà nói đối với giới lănh đạo Phật giáo sau 1963,
h́nh như lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm th́ kể như nhiệm vụ đă
hoàn tất. Ít ai c̣n quan tâm đến Dụ số 10 cũng như ít ai hiểu
thực chất Dụ số 10 là ǵ và cũng ít ai quan tâm đến bản phúc
tŕnh của LHQ nữa.
Bà Ngô Đ́nh Nhu phản đối LHQ phải chăng cũng là v́ lư do đó? Hầu
như tất cả các tài liệu viết về về biến cố 1963 sau này chưa có
một ai đă dùng tài liệu này như một bằng chứng của sự thật.
Tại sao thế? Phải chăng tập tài liệu này có tính cách lưỡng giá?
Không có vấn đề đúng sai một phía hoặc nó không đáp ứng hoàn
toàn ḷng mong đợi của một số người.
Đấy là cảm nhận của người viết khi đọc đi đọc lại tập tài liệu
này.
-------------------------------------
Bài này là một biên tập toàn bộ những điểm chính
yếu của bản phúc tŕnh để
‒ T́m hiểu xem có vấn đế kỳ thị tôn giáo hay không và nếu có ở
mức độ nào?
‒ Xác định rơ tính chất Dụ số 10 như thế nào đồng thời trên thực
tế nó được áp dụng ra sao đối với sinh hoạt Phật giáo sau 1954?
‒ Có sự tham gia của các thế lực chính trị hay cộng sản vào
phong trào Phật giáo 1963 hay không?
‒ Vấn đề tự thiêu của một số tăng sĩ Phật giáo qua một vài nhân
chứng phải được hiểu như thế nào?
‒ Rồi biến cố đài phát thanh Huế được chính quyền giải thich ra
sao. Ai trách nhiệm về biến cố ấy?
‒ Và vấn đề quan trọng cuối cùng là nguyên nhân nào đă đưa tới
biến động Phật giáo 1963, trong đó không thể nào không đưa ra
nhận định của ông Ngô Đ́nh Nhu.
Xin mời bạn đọc
cùng t́m hiểu để thấy được tính chất thật của biến cố Phật giáo
1963.
Khúc rẽ của cuộc
tranh đấu Phật giáo đưa tới sự có mặt của Phái đoàn điều tra LHQ
Vấn đề
tranh đấu Phật giáo đi tới một khúc quanh quan trọng sau khi có
việc tấn công các chùa trên toàn quốc vào ngày 20 tháng 8, 1963.
Cuộc khủng hoảng đă kéo dài trên 3 tháng với hàng trăm cuộc biểu
t́nh. Riêng nhân chứng số 2 cho biết t́nh trạng chùa Xá Lợi vào
những ngày ấy như sau:
“Chùa Xá Lợi là trụ sở
của Tổng Hội Phật giáo mà b́nh thường chỉ có mươi vị
tăng cư trú tại chùa. Nhưng khi chúng tôi đấu tranh để
đ̣i thực hiện 5 nguyện vọng, có lối 500 đến 1000 người
tăng ni tá túc tại chùa này. Đêm chúng tôi bị bắt, có
vào khoảng 600 tăng ni trong chùa.”
(Trích lời khai của nhân chứng số 2, trang 111.)
T́nh trạng cả hàng ngàn người ở trong một ngôi chùa với loa
phóng thanh rỉ rả suốt ngày đêm chống đối chính quyền như
thế đến lúc nó phải bùng nổ thôi.
Mọi hy vọng đi tới ḥa giải giữa chính quyền và Phật giáo đi
vào ngơ cụt. Nhưng việc tấn công các chùa trên toàn quốc là
một sai lầm chiến thuật sinh tử gây dư luận xôn xao trên thế
giới, nhất là đối với một số nước có truyền thống theo đạo
Phật.
Phía chống đối chính quyền có lẽ chỉ mong có thế. Phía tướng
lănh quân đội chủ mưu lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm đă
châm ng̣i nổ trong vụ này.
Trước khi có phái đoàn LHQ sang Việt Nam th́ các nước Tích
Lan (Dominion of Ceylon, trước năm
1972 nay là Democratic Socialist Republic of Sri Lanka, hay
Sri Lanka - DCVOnline)
và 13 nước khác trong khối Á
Phi đă đưa vấn đề Phật giáo Việt Nam ra trước Đại Hội Đồng
Liên Hiệp Quốc (Văn thư gủi LHQ ngày 4-9-1963 gồm A Phú Hăn
(Afghanistan), Angiêri (Algeria), Cambodia, Tích Lan
(Ceylon), Ghinê (Guyana), Ấn Độ, Indônêxia (Indonesia), Mông
Cổ (Mongolia), Nigiêria (Nigeria), Hồi Quốc (Pakistan),
Ruanda (Rwanda), Sierra Leone, Xômali (Somalia), Trinité và
Tobago (Trinidad và Tobago) [Trong
ngoặc đơn là chú thích của DCVOnline].
Đó là bản Khống tố đệ tŕnh trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp
Quốc mà nội dung gồm những điều khoản mà chính quyền Việt
Nam bị coi như vi phạm các nguyên tắc của hiến chương Liên
Hiệp Quốc đề ra. Sau đó có thêm hai nước là Mali và Nepal
cũng tham dự kư tên.
Thành phần phái đoàn đều là những nước theo Phật giáo
Tiểu Thừa xem ra cũng là điều nên tránh và chế độ đệ
nhất cộng ḥa nay xuất hiện trước các nước Á Phi như một bị
cáo trước khi phái đoàn LHQ sang Việt Nam.
(Phái
đoàn LHQ gồm đại diện các quốc gia Afghanistan,
Brazil, Ceylon, Costa Rica, Dahomey, Morroco và
Nepal; Afghanistan là 1 quốc gia theo Hồi giáo;
Brazil ảnh hưởng văn hoá Portugese theo Thiên
chúa giáo; Costa Rica là quốc gia ở châu Mỹ La
Tinh đa số theo Thiên Chúa giáo; Dahomey nay là
Republic of Benin là thuộc địa cũ của Pháp, dân
tin vào Voodoo – Nguồn: “A United Nations high
commissioner for human rights”, By Roger Stenson
Clark, trang 67. Theo Clark th́ cuộc điều tra,
bắt đầu vào cuối tháng 10 và kết thúc khi cuộc
đảo chánh TT Ngô Đ́nh Diệm thành công, không có
kết luận, “the affair ended inconclusively” -
DCVOnline).
Nhưng trên thực tế th́ chính phủ VNCH
cũng đă dành lại thế chủ động khi đă yêu cầu LHQ cử
một phái đoàn sang VN điều tra. Văn thư của chính
phủ VNCH mời một phái đoàn sang điều tra đề ngày
4-10-1963. Sau đó, đại Hội Đồng chấp thuận thơ mời
của chính phủ VNCH.
Nội dung lá thư mời của chính phủ
VNCH:
“Chính
phủ VNCH trân trọng cảm tạ Ngài nếu được
Ngài vui ḷng giúp đỡ cho sự thành lập
phái đoàn quan sát ấy.”
(Trích “Bản bá cáo của
phái đoàn điều tra LHQ về vụ đàn áp Phật
giáo 1963”, trang 18.)
Phần Liên
Hiệp Quốc, họ đă đem lá thư mời đó ra bàn
thảo và đi đến quyết đinh:
“Đại Hội đồng chỉ c̣n xem xét
một vấn đề độc nhất là bức thư
đề ngày 4-10-1963 do phái đoàn
đặc ủy của Việt Nam Cộng ḥa gửi
cho ông Chủ tịch Đại Hội Đồng mà
tôi đă đọc trong phiên họp
khoáng đại thứ 1232 của Đại hội
đồng ngày ngày 7-10-63”
Nhưng
dưới mắt TT Thích Trí Quang th́ có
nhận xét khác về lá thư mời của
chính phủ VNCH như sau:
“Kế đó, Quốc Gia Tích
Lan và 13 nước khác
trong khối Á Phi đă đưa
vấn đề Phật giáo Việt
Nam ra Đại Hội đồng Liên
hiệp quốc”, kết quả, một
phái đoàn điều tra đă
được phái sang Việt Nam
Cộng Ḥa, với cái bề
ngoài do thư mời của
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm
– Chính phủ Ngô Đ́nh
Diệm đă cử ông Bửu Hội
sang mời Liên Hiệp Quốc
trước, tin chắc rằng,
với sự dàn cảnh khôn
khéo, phái đoàn điều tra
sẽ bị đánh lạc hướng.”
(Trích
“Lời giới thiệu” của TT
Trí Quang trong tập tài
liệu như trên.)
Người được trao phó công
việc liên lạc với LHQ là
Giáo sư Nguyễn Phúc Bửu Hội
(1915-1972), cháu vua Minh
Mạng, một nhà bác học đồng
thời là bạn thân của ông Ngô
Đ́nh Nhu khi c̣n là sinh
viên bên Pháp. Trước những
rắc rối của chính quyền đối
với Phật giáo, ông Nhu đă có
lần trách ông Bửu Hội:
“Tu me laisses dans le
couille.”
Ông đưa tôi vào thế kẹt.
V́ vậy vai tṛ của ông Bửu
Hội thật không dễ.
Một mặt chính mẹ ông đ̣i tự
thiêu và ông phải can gián;
ông lại rất thân với phía
Phật giáo và muốn họ không
nên bạo động nữa. Trong chỗ
riêng tư, ông đánh tiếng nhờ
người Mỹ khuyên Trí Quang "đừng
quậy" nữa để Phật giáo được
yên.
Về phía chính quyền, ông
cũng vào gặp ông Nhu nhờ can
thiệp để thả những nhà sư
đang c̣n bị bắt cầm tù. Ông
Nhu hứa sẽ can thiệp.
|
|
|
Abdul Rahman
Pazhwak
Nguồn:
zmong-afghanistan.com
|
Phần phái đoàn điều tra Liên
Hiệp Quốc, họ đă cấp tốc lên
đường mang theo 33.600 đô la
để chi tiêu. Và để giữ được
tính cách khách quan, trưởng
phái đoàn, ông Pazhwak,
người A Phú Hăn kêu gọi
không có biểu t́nh bất cứ
dưới h́nh thức nào và cũng
sẽ từ chối những buổi tiếp
tân hoặc những chi phí tại
chỗ của chính phủ VNCH dành
cho phái đoàn.
(Abdul
Rahman Pazhwak (1919 -
1995), In 1963, he served as
Chairman of the United
Nations Fact-Finding Mission
to Viet-Nam, sent to examine
the relations between the
Government of the Republic
of Viet-Nam and the
Vietnamese Buddhist
community. Trích Tiểu sử Chủ
tịch Đại hội đồng thứ 21 LHQ
– DCVOnline).
Phái đoàn cũng dự liệu tất
cả các nhân chứng đều được
yêu cầu khỏi phải khai tung
tích. Nhưng họ phải tuyên
thệ nói đúng sự thật và
trong khi thẩm vấn, không có
sự hiện diện của nhân viên
chính quyền và những điều họ
nói sẽ được giữ kín. Ngay cả
những lời khai nào có thể
làm người ta tiên đoán được
tung tích các nhân chứng đều
được xóa bỏ.
Để bảo toàn cẩn mật, phái
đoàn đă cũng yêu cầu Thụy Sĩ
(Switzerland)
giữ ǵn hồ sơ của phái đoàn
để khỏi bị đánh tráo.
Sau ngày 1-11-1963, một số
giới lănh đạo Phật giáo sau
khi đọc bản phúc tŕnh này
có vẻ như không hài ḷng về
Bản Điều tra LHQ nên có
nhiều tin đồn cho rằng,
chính phủ ông Ngô Đ́nh Diệm
đă mua chuộc, dẫn gái cho
các đại diện phái đoàn rồi
quay film làm chantage nhằm
bịt miệng những vị đại diện
của phái đoàn.
Người viết nghĩ rằng đó là
những tin đồn vô căn cứ đụng
chạm đến uy tín và giá trị
xác thực của tập tài liệu
này.
Mặc dầu có lời yêu cầu của
phái đoàn đừng biểu t́nh,
bạo động, nhưng ngày 29-10,
phái đoàn vẫn được ông Bộ
trưởng Nội vụ cho biết có
danh sách 10 người tự thiêu,
trong đó đă có một vụ tự
thiêu vào ngày 27-10-63 để
làm áo lực với phái đoàn
điều tra .
Về điều này, ông Ngô Đ́nh
Nhu cũng dự liệu trước cái
rủi ro của việc mời phái
đoàn, ông viết :
“Tôi thành
thật nói rằng
Chính phủ buộc
ḷng mời quư ông
đến xem tất cả
những ǵ mà quư
ông muốn xem.
Nhưng chính phủ
cũng hiểu rằng
điều này sẽ gây
nên nhiều khó
khăn. Đó là dịp
quá tốt để cho
những kẻ âm mưu
muốn gây một xúc
động cho phái
đoàn.”
(Trích tài
liệu trang 56.)
Cũng theo yêu cầu,
phái đoàn đă có dịp
hội kiến với TT Ngô
Đ́nh Diệm, ông Ngô
Đ́nh Nhu, ông Nguyễn
Ngọc Thơ, ông Bùi
Văn Lương, ông
Nguyễn Đ́nh Thuần,
ông Trương Công Cừu
và thiếu tướng Trần
Tử Oai cũng như một
số nhân chứng gồm
trên dưới 50 người
như các tăng ni,
phật tử, sinh viên
và trí thức. Trước
khi lên máy bay rời
Việt Nam, ngày 3-11,
nghĩa là sau khi chế
độ Ngô Đ́nh Diệm đă
sụp đổ thấy không
cần giữ bí mật tên
tuổi các người được
phỏng vấn, phái đoàn
đă trao danh sách
tên các nhà sư được
phỏng vấn là:
Thích Trí Thủ,
Thích Quảng Liên,
Thích Tâm Giác,
Thích Tâm Châu,
Thích Đức Nghiệp,
Thích Thiện Minh và
ông Mai Thọ Truyền.
Trong danh sách các
nhà sư được phỏng
vấn không có tên TT
Thích Trí Quang th́
đây là lời giải
thích của bộ trưởng
Bộ Ngoại giao vào
ngày 31-10-1963 với
phái đoàn.
Ông Bộ Trưởng tuyên
bố:
“Theo
Quốc tế
công
pháp,
người
được
hưởng
quyền tỵ
nạn
không
thể hoạt
động hay
tiếp xúc
với bên
ngoài,
nếu
không
được sự
chấp
thuận
của
chính
phủ
trong xứ.
“Chính
phủ Việt
Nam
chống
lại mọi
sự tiếp
xúc với
nhà sư
Thích
Trí
Quang,
v́ luật
lệ tị
nạn
không
cho phép
người tị
nạn hành
động một
việc ǵ
cả, hay
tiếp xúc
với bất
cứ ai.
Bởi thế,
ông Bộ
Trưởng
được
biết
rằng tại
ṭa đại
sứ Mỹ,
nhà sư
Thích
Trí
Quang
phải ở
trong
một gian
pḥng
không có
cửa sổ.
Nếu
người Mỹ
giao ông
ta lại
cho
chính
quyền
Việt
Nam,
chính
phủ sẽ
cho phép
phái
đoàn hội
đàm với
ông ta,
như với
những
người
khác.”
(Trích
tài liệu
như trên,
trang
99)
Phái đoàn
cũng yêu cầu
ông Bộ
trưởng Nội
vụ cung cấp
những tài
liệu như sau
về TT Thích
Trí Quang:
“Chúng tôi cũng muốn biết những điều thuộc về quá khứ của nhà sư Thích Trí Quang và, theo chính phủ, những trường hợp nào đă thúc đẩy nhà sư ấy đến xin trú ẩn tại sứ quán Hoa Kỳ, và bằng cách nào ông đă trốn được vào đấy.”
(Trích trang 72, tài liêu như trên.)
Đọc
tập
tài
liệu,
người
viết
có
một
nhận
xét
là
phái
đoàn
đă
thiếu
sót
khi
không
hỏi
đến
một
nhân
chứng
khác.
Nhân
chứng
này
quan
trọng
chẳng
thua
ǵ
TT
Thích
Trí
Quang
và
nếu
giả
dụ
chính
quyền
chủ
mưu
trong
vụ
thảm
sát
đài
phát
thanh
Huế
th́
nhân
vật
này
phải
là
kẻ
chủ
mưu.
Đó
là
ông
Ngô
Đ́nh
Cẩn
và
kẻ
thừa
hành
hành
là
Thiếu
tá
Đặng
Sỹ.
Tại
sao
một
nhân
chứng
như
Ngô
Đ́nh
Cẩn
và
Đặng
Sỹ
đă
bị
bỏ
quên?
Một
nhân
chứng
then
chốt
như
thế
bị
bỏ
quên
cho
thấy
vụ
biến
động
Phật
giáo
có
những
điều
cần
phải
xét
lại.
Thiếu
Ngô
Đ́nh
Cẩn
th́
chẳng
khác
ǵ
trong
một
vụ
trộm
mà
kẻ
trộm
lại
được
miễn
ra
ṭa.
Nhưng
những
người
như
TT
Thích
Trí
Quang
th́
thừa
hiểu
hơn
ai
hết
rằng
Ngô
Đ́nh
Cẩn
từ
trước
tới
sau
đều
đứng
đằng
sau
giúp
đỡ
Phật
giáo,
nhất
là
TT
Trí
Quang.
Ngay
cả
trong
vụ
treo
cờ,
ông
là
người
duy
nhất
đồng
ư và
chấp
thuận
ủng
hộ
TT
Trí
Quang
cho
phép
tiếp
tục
treo
cờ,
v́
đă
lỡ
rồi.
Cho
nên
không
lạ
ǵ
TT
Trí
Quang
nói:
“Lấy tư cách hội trưởng Phật giáo trung phần, tôi ra lệnh các đạo hữu từ nay cứ treo cờ Phật giáo tại các chùa khuôn cũng như tại tư gia, đó là lệnh của tôi, tôi xin gánh lấy trách nhiệm và hậu quả trước chính quyền.”
Trong phần tŕnh bày về sự kỳ thị Phật giáo cũng như về vụ biến cố đài phát thanh Huế, tại sao tất cả các vị Ḥa Thượng, đại Đức ra làm nhân chứng đă không một người nào nhắc tên, hoặc minh định tên Ngô Đ́nh Cẩn hay Đặng Sỹ? Hoặc gán ghép cho ông bất cứ tội trạng nào đó?
Từ đầu đến cuối cuộc phỏng vấn, ông Ngô Đ́nh Cẩn như người ngoài cuộc và vô can. Vậy mà sau 1-11-1963, những người này đă trả giá cho những việc họ đă làm trong quá khứ, là đối tượng của một cuộc thanh trừng cần thiết? Ngay trong toàn thể nội dung cáo trạng buộc tội ông Ngô Đ́nh Cẩn sau này (hai tội trạng) không một hành vi dù nhỏ cho thấy ông là người trách nhiệm về vụ được gọi là đàn áp Phật giáo năm 1963.
|
LHQ và vụ khủng hoảng Phật
giáo 1963 (II)
T́m hiểu bản bá cáo của phái đoàn
điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ đàn áp Phật giáo 1963
Những người như TT Thích Trí Quang nay c̣n sống và các
nhân chứng c̣n sống là những người duy nhất có thể trả
lời phải chăng ông Ngô Đ́nh Cẩn là hung thần, là thủ
phạm chính của Phật giáo miền Trung hay ngược lại là
người đă đứng ra bảo trợ cho ông Thích Trí Quang. Việc
giết Ngô Đ́nh Cẩn sau này phải chăng nhằm bịt miệng một
nhân chứng có thể quấy rầy và người yêu cầu giết ông Ngô
Đ́nh Cẩn với chính quyền Nguyễn Khánh lại chính là TT
Thích Trí Quang như gián tiếp được nói trong Tiểu truyện
tự ghi?
Hay ông Ngô Đ́nh Cẩn phải chăng chỉ là kẻ vẽ đường cho
hươu chạy?
Sau đây, người viết xin trích dẫn một vài câu trả lời
của các nhân chứng được coi là có ư nghĩa nhất trong một
số vấn đề.
Về vấn đề kỳ thị tôn
giáo
Đọc bản Phúc tŕnh này th́ khó có thể nói có một chính
sách kỳ thị tôn giáo xét về mặt tổ chức nhân sự, người
lănh đạo. Có thể có t́nh trạng lạm dụng quyền hành ở mức
địa phương, Và đặc biệt việc kỳ thị hầu như chỉ giới hạn
tại bốn tỉnh miền Trung mà không ở Huế cũng như trên
toàn miền Nam như lời nhận xét của ông Ngô Đ́nh Nhu. Đă
là kỳ thị th́ chính sách ấy phải tràn lan trên toàn miền
Nam, tại sao chỉ có bằng cớ kỳ thị trên phạm vi 4 tỉnh?
Trong những trường hợp cụ thể, lư chứng đưa ra thật yếu
ớt và tiểu tiết. Chẳng hạn, một vị đă đơn cử trường hợp
một phật tử đă bị phạt vạ 20 đồng bạc v́ tụng kinh lớn
tiếng.
Trong khi đó, theo phúc tŕnh của Thiếu tướng Trần Tử
Oai bằng tiếng Pháp cho phái đoàn th́ từ ngày chấp chánh
của TT. Ngô Đ́nh Diệm đă có thêm 1275 ngôi chùa được xây
cất trên tổng số 4766 chùa là một bằng chứng hiển nhiên
không có kỳ thị Phật giáo.
Ông Ngô Đ́nh Nhu đă trả lời cho ông Gunewarden về vấn đề
này liên quan đến thành phần nhân sự Phật tử tham gia
trong chính quyền. Theo ông Nhu, số lượng công chức
thuộc giới Phật tử chiếm tỉ lệ 3/4. Trong hàng ngũ tướng
lănh có 17 vị th́ 14 vị là phật tử, không được rơ là
phật tử thuần túy hay không và ba tín đồ Gia Tô. Ông Ngô
Đ́nh Nhu nói thêm:
Tôi là một tín đồ Gia
Tô, nhưng chống Giáo Hội. Tôi cũng cần nhắc nhở các ông
là trong Phật giáo có nhiều thành phần đảng phái cổ xúy
như Đại Việt Duy Dân. Tất cả các đảng viên đều ở Bắc.
Phong trào Phật giáo đêu diễn ra toàn ở miền Bắc và
Trung Việt Nam, chứ không phải ở Nam.
Nhân chứng số
1
Trưởng phái đoàn – Theo ư Ngài, những lời tố
cáo chính phủ Việt Nam đă vi phạm các quyền tín ngưỡng
của Phật giáo đồ có căn cứ không? Nếu có, chúng tôi muốn
được Ngài cho biết càng nhiều càng tốt những bằng chứng
về những vi phạm ấy.
Nhân Chứng –
Những tố giác về về những
vi phạm của chính phủ đối với việc tu hành hay với Phật
pháp bắt nguồn từ bốn tỉnh ở Trung Việt cách đây đă 3
hay 4 năm. Bốn tỉnh ấy là: Phú Yên, B́nh Định, Quảng Nam
và Quảng Ngăi. C̣n những tố giác khác tôi không được
biết rơ
Nhân Chứng
số 4
Trưởng phái đoàn – Lúc chưa đến Việt Nam,
trước ngày 6-5-1963, chúng tôi chưa từng nghe nói đến
vấn đề kỳ thị đối với Phật giáo hay những vụ lôi thôi về
Phật giáo chống lại sự kỳ thị. Như thế, xin Ngài cho
biết lư do nào khiến cho những vụ lôi thôi đă bộc phát
sau ngày nói trên, hay đă có những vụ lôi thôi mà chúng
tôi chưa nghe nói đến.
Nhân Chứng –
Về những năm trước
ngày 5-5. Tín đồ Phật giáo được treo cờ Phật giáo và năm
nay họ cũng muốn làm như năm trước. Nhưng năm nay, trước
ngày lề, chính phủ đă thông báo cho họ biết, chỉ được
treo cờ trong Chùa chứ không được treo ở ngoài. Kế
đến một số người đă bị tử thương trong vụ lôi thôi xảy
ra ở Huế. Như thế, những biến cố liên tiếp dường như đă
chứng tỏ có một sự kỳ thị đối với Phật giáo.
Nhân chứng
số 5
Trưởng phái đoàn– Ngài có thể cho chúng tôi
biết ư kiến, trước ngày 6-5-63, có sự kỳ thị tôn giáo
với đạo Phật không?
Nhân Chứng –
Về cấp chính phủ không có sự kỳ thị rơ ràng, nhưng ở cấp
dưới, người ta nhận thấy có sự kỳ thị.
Trưởng phái đoàn – Như thế tôi có thể kết luận
rằng luật pháp không đặt ra vấn đề kỳ thị, nhưng trên
phương diện thực tế th́ có.
Nhân Chứng –
Vâng
Trưởng phái đoàn
Nhân Chứng –
Ví dụ, có một việc ǵ
quan trọng hay một cuộc lễ ǵ, chư tăng không được mời
v́ người ta lo ngại các vị này bị ảnh hưởng của Việt
Cộng.
Nhân chứng
số 6
Trưởng phái đoàn – Theo Ngài, những điều khiếu
nại của Phật giáo đồ là ǵ?
Nhân chứng –
Từ lâu nay, tôi không
ở trong nước cho nên tôi không biết được tất cả, nhưng
một trong điều khiếu nại ấy là sự cấm đoán treo cờ trong
dịp lễ Phật.
Ông Guewarden – Ngài có nghĩ rằng có một sự kỳ thị
đối với tín đồ Phật giáo?
Nhân chứng –
Tôi không biết. Lúc ấy tôi ở hải ngoại. V́ thế, tôi
không biết những điều ǵ xảy ra trước cả. Lúc tôi trở về
th́ nghe nói rằng một số người đă bị bắt
Trưởng phái đoàn- Ngài có nhận xét ǵ về cách
đối xử của chính phủ đối với Phật tử miền Trung không?
Nhân chứng - Để ngài có một ư niệm rơ ràng về
t́nh h́nh, tôi phải thưa với Ngài ngay rằng, về phương
diện chính thức, không có kỳ thị trong chính sách của
chính phủ nhưng chính phủ đă dung thứ những hành vi đàn
áp, những sách nhiễu và những sự ngược đăi. Có lần tổng
thống tiếp tôi trong hai giờ mười lăm phút. Tôi có nhắc
lại những nguyện vọng của chúng tôi và có bảo với ông ta
rằng: “Thưa
Tổng Thống, nếu Tổng Thống không chú trọng đến những
nguyện vọng của tín đồ Phật giáo th́ Tổng Thống sẽ gặp
một phong trào toàn diện trong hàng tín đồ Phật giáo với
nhiều rắc rối lôi thôi, điều ấy không thể tránh được.
Tôi biết rằng tổng thống không bao giờ có ư định đàn áp
Phật giáo, nhưng nếu ngài cứ tiếp tục làm ngơ trước
những hành vi của cấp dưới trong chính phủ th́ tín đồ
Phật giáo sẽ cho rằng chính phủ phải chịu trách nhiệm ấy.
Tôi xin đơn cử cho ngài một ví dụ. Ở Trung Phần, một
Phật tử đă bị phạt vạ 20 đồng bạc v́ đă tụng kinh lớn
tiếng. Người đứng ra phạt là tên Hội viên Cảnh sát, một
người công giáo. Chúng tôi c̣n giữ biên lai của sự phạt
vạ ấy và trong biên lai có ghi rơ người này đă bị phạt
vạ v́ tụng kinh to tiếng. Cách đây vài năm, trong một
đám rước của Phật giáo, những người công giáo đă ném bùn
vào tương Phật.”
Một số nhân chứng
Ông Gunewardene – Cách
đây không lâu, dân chúng 4 tỉnh có gởi đơn khiếu nại về
vấn đề ǵ thế?
Nhân chứng –
Họ khiếu nại về các sự thiên vị và các điều hạn chế; khi
họ muốn tổ chức vài lễ đặc biệt, nếu họ không được cấp
giấy phép mà cứ làm, th́ họ bị phạt .
Ông Gunewarden – Họ có gửi đơn khiếu nại ghi rơ các
điều trên để xin hủy bỏ các hạn chế ấy không?
Nhân chứng –
Có
Ông Gunewarden – Khi nào?
Nhân chứng –
Năm 1960 và 1961.
Ông Amor – Thiên Chúa giáo có được biệt đăi hơn Phật
giáo không?
Một Nhân chứng khác -
Chỉ tại v́ tổng thống
theo Thiên Chúa giáo.
Nhân chứng –
Chẳng hạn, lễ giáng
sinh là một quốc lễ, c̣n lễ Phật giáo chúng tôi luôn
luôn phải xin phép mới tổ chức được.
Nhân chứng
số 9
Ô. Volio – Trước 8-5 ngài có được tự do hành đạo
không?
Nhân chứng –
Đối với các nhà sư th́
có, nhưng đối với cư sĩ th́ gặp nhiều khó khăn lắm như
đối với quân nhân Phật tử chẳng hạn.
.Ô. Gunewardene – Khó khăn như thế nào?
Nhân chứng –
Binh sĩ được chỉ thị ở
trong trại và không được đi chùa.
Ô. Gunewardene – Đó là
một sự đàn áp công khai?
Nhân chứng –
Trong trường hợp của
binh sĩ, các sĩ quan cao cấp cấm họ đi chùa . Sau ngày
8-5, không ai dám đến chùa.
Trưởng phái đoàn – Thôi hăy để chuyện đàn áp
lại đó đă. Bây giờ tôi hỏi quư ông: Quí ông có được tự
do hành đạo hay cứ có người xen vào làm áp lực .
Nhân chứng –
Từ ngày ây, không có
ai xen vào sự hành đạo của chúng tôi cả. Thập phương tới
lui tự do. Họ đến đọc kinh và chúng tôi có tự do hành
đạo theo ư muốn.
Ông Trưởng phái đoàn – Ông vừa nói với chúng
tôi từ khi xảy ra vụ đàn áp th́ quư ông tự do hành đạo,
không ai xen vào .. Vậy chứ trước đó th́ sao?
Nhân chứng –
Trước đó, không có ai
xen vào một cách lộ liễu lắm. Nhưng trước ngày 20 tháng
8 khách thập phương h́nh như sợ không dám tới.
Trưởng phái đoàn – Họ sợ cái ǵ?
Nhân chứng –
Thực ra, tôi không
hiểu họ sợ cái ǵ, nhưng lính gác cứ liên tiếp đóng
chung quanh chùa: thành họ khiếp.
Ông Amor – Ông có thể cho biết con số ước
chừng ngay bây giờ được không?
Ông Đại biểu Chính phủ: Trên nguyên tắc, dân
chúng trong xứ phần đông là tín đồ Khổng giáo. Tất nhiên
có người theo Phật giáo, người theo công giáo, nhất là ở
Huế, bởi v́ ngày xưa ở đây là nơi có ḍng dơi vua chúa,
các quan lại và công chức ở. Vào khoảng 30 % dân chúng
là Phật tử. Những người c̣n lại là tín đồ của công giáo
hay Khổng giáo.
Bây giờ có thể cho ông biết một vài số sưu tầm được
trong những tài liệu về sự phân phối những công chức của
chính quyền ở miền Trung Nguyên Trung Việt , 25% theo
công giáo, 31% theo Phật giáo, và 41 % theo Khổng giáo.
Nhân chứng
số 39
“Tôi là một bác
sỹ theo Phật giáo từ khi ở Pháp về, là bác sĩ chính thức
của hầu hết ni cô, nhà sư ở Sài G̣n, tôi đă làm trung
gian giữa tổng thống Diệm và các phật tử từ khi cần
thiết như tham dự những hội kiến giữa tổng thống Diệm và
các nhà lănh đạo trước biến cố 8/5..[..] Tôi có những
tiếp xúc trực tiếp với tổng thống. Nếu các kết luận điều
tra là có sự kỳ thị về phía chính phủ đối với Phật giáo,
th́ ư kiến của tôi là Tổng thống không theo một đường
lối kỳ thị đối với Phật giáo”.
Việc kỳ thị Phật giáo cụ thể chỉ thực sự xảy trong 4
tỉnh miền Trung, nhưng xem ra phái đoàn ít lưu tâm đến
các chứng cớ này.
Hiện nay, người viết c̣n giữ được tập hồ sơ khiếu kiện
nhan đề: Hồ sơ cuộc đàn áp Phật giáo đồ tỉnh Phú Yên,
chính thức từ năm 1960-1961. Hồ sơ gửi lên Tổng Thống
Việt Nam Cộng Ḥa, Thư gửi cho Trung Tá tỉnh trưởng tỉnh
Phú Yên rồi thư của các Ḥa thượng Thích Phước Hộ, Chánh
Hội Trưởng, gửi Trung tá tỉnh trưởng tỉnh Phú Yên thư
của Ḥa thượng Thích Tịnh Khiết gửi ông Chủ tịch Quốc
Hội (theo nhiều người, HT.
Thích Tịnh Khiết không biết chữ.)
Cách giải quyết những khiếu kiện này như thế nào th́
không được rơ.
Những lời khiếu kiện có thể là: t́nh nghi Việt Cộng, đe
dọa, bắt bớ giam cầm cũng có, cường bách bỏ đạo Phật vào
đạo công giáo. Nói chung có 125 văn thư khiếu nại tại 4
tỉnh miền Trung.
Nhận xét chung về vấn đề kỳ thi Phật giáo
‒ Không có kỳ thị ở cấp Trung ương, chỉ ở cấp địa phương.
‒ Cá nhân các ông Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu và nhất là
hung thần miền Trung Ngô Đ́nh Cẩn không là đối tượng
trực tiếp bị tố cáo.
‒ Việc kỳ thị tôn giáo chỉ xảy ra tại 4 tỉnh miền Trung,
xin ghi nhận là các tỉnh này trước 1954 đều nằm trong
ṿng kiểm soát của Việt Minh cho đến 1954 và được trao
trả cho chính quyền Sài G̣n vào năm 1955. Không ở đâu mà
tổ chức Phật giáo chặt chẽ xuống đến các cấp thôn xă như
ở 4 tỉnh này? Có ai có thể bảo đảm là các đại diên Phật
giáo ở các tỉnh này đều là Phật giáo thuần túy? Tại sao
hồ sơ đàn áp Phật giáo chỉ xảy ra vỏn vẹn từ năm 1960-
1961? Việc dân các xă ấp này trở lại đạo công giáo hàng
loạt là chính sách của giáo hội Thiên Chúa giáo hay
chính quyền, hay là chủ trương của cộng sản? Đó là một
hiện tượng có thật, nhưng lại là một sản phẩm giả mạo và
phi lư chỉ xảy ra tại 4 tỉnh miền Trung? Tại sao nếu là
chính sách của chính phủ hay của Thiên Chúa giáo lại chỉ
xảy ra tại 4 tỉnh này? Ônng Nhu trong phần trả lời phái
đoàn LHQ đă giải thích là đây là thủ đoạn của cộng sản,
bắn một mũi tên giết hai con chim. Chính Việt Minh đưa
người của họ theo đạo Thiên Chúa giáo hàng loạt rồi
chính họ tố cáo chính quyền và giáo hội Thiên Chúa giáo
cưỡng bách theo đạo.
“Phong trào
Phật giáo đều diễn ra toàn ở miền Trung và Bắc Trung
Việt Nam, chứ không phải ở trong Nam.”
(NĐN)
Đây là mối lo của lănh đạo Thiên Chúa giáo trước hiện
tượng theo đạo hàng loạt này.
Phải chăng v́ những lư do trên mà các nhân chứng 4 tỉnh
này không có trong danh sách nhân chứng thuộc phái đoàn
điều tra LHQ? Và tập hồ sơ Cuộc đàn áp Phật giáo đồ tỉnh
Phú Yên mà tôi có trong tay đă không được phái đoàn LHQ
đưa ra làm bằng cớ là có đàn áp Phật giáo?
(C̣n tiếp)
|
LHQ và vụ khủng hoảng Phật giáo1963
(III)
T́m hiểu bản báo cáo của phái đoàn
điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ đàn áp Phật giáo 1963
Sự dính líu của người ngoại quốc và
có sự trà trộn của cộng sản trong biến động Phật giáo 1963 Đây là
vấn đề mà phái đoàn quan tâm và hầu như đă hỏi bất cứ nhân chứng nào.
Riêng sự tiết lộ của ông Bộ trưởng bộ Nội vụ về nhân vật Đặng Ngọc
Lựu là rất quan trọng.
“Sau khi trở về Sài G̣n, ngày 8 tháng, tôi được tin những vụ lộn xộn
đẫm máu xảy ra ở Huế. Tôi tự hỏi v́ sao lại có những vụ lộn xộn như
thế, trong khi các vị thượng tọa đă đoan chắc với tôi là họ đă thỏa
măn. Lúc ấy, tôi không thể hiểu được. Nhưng về sau khi bắt giữ vài
ba người, tôi nhận được tờ khai tự tay của ông Đặng Ngọc Lựu, cộng
tác viên thân cận của nhà sư Thích Trí Quang viết ra, tôi đọc tờ
khai ấy và tôi đă hiểu.
Ông Trưởng phái đoàn – Ông
Lựu bây giờ ở đâu?
Ông Bộ Trưởng – Đang ở với
chúng tôi. Chúng tôi bắt giữ ông ta, và trong tờ khai ông ta nói rơ
ràng cuộc âm mưu (do đó mới có chữ “âm mưu”
dùng trong bản tài liệu)
cuộc âm mưu do Việt Cộng dật giây này, đă được chuẩn bị và thỏa
thuận từ năm 1960. Tôi không thể kết luận rằng thông tư ngày 6-5 là
duyên cớ duy nhất của những vụ lộn xộn v́ lẽ âm mưu đă được quyết
định từ năm 1960”
Cuối cùng phái đoàn mong được biết
quá khứ của ông Đặng Ngọc Lựu và mong có được một bản sao những tài
liệu của ông Lựu mà ngài đă tŕnh bày với chúng tôi.
Ông Trưởng phái đoàn – Chúng
tôi cũng muốn được biết v́ sao ông ta lựa ṭa đại sứ Hoa Kỳ.
Ông Bộ Trưởng- Tôi sẽ trả lời
điểm này bằng văn thư, nhưng tôi có thể nói với ông ngay bây giờ
rằng, tài liệu đă tịch thu được trong các chùa và theo những lời
khai của nhà sư Thích Tâm Châu (1)
(Có thể ông Bộ Trưởng nói lộn v́ người phụ trách
liên lạc là Đại đức Thích Đức Nghiệp),
người đă phụ trách liên lạc giữa Ủy ban Liên phái và báo chí ngoại
quốc, th́ ông Trí Quang đă nhiều lần tiếp xúc với những người ngoại
quốc để yêu cầu chính phủ phải bị lật đổ. Trong những lời khai có cả
tên những người ngoại quốc đă được tiếp xúc, nhưng tôi sẽ trả lời
bằng văn thư. Để ông được biết, tôi có thể kể vài người ngoại quốc
đă bị khai như Cumming Bogo”.
Phần Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ
có nhận xét như sau về phong trào Phật giáo: Ban đầu, vấn đề chỉ
thuần tôn giáo, về sau, có thể có một vài sự liên lạc với bọn cộng
sản và t́nh thế đổi chiều.
Ông Koirala đă hỏi một nhân chứng
– Người ta cho rằng cộng sản, việt cộng và những nhân viên ngoại
quốc khác là nguyên nhân của các vụ lôi thôi, ngài nghĩ sao?
Nhân chứng –
Tôi chỉ biết tu mà thôi, tôi
không thể nói được việc ấy.
Ông Koirala – Với tư cách
là tu sĩ, ngài có nghĩ rằng quyền lợi của tổ quốc phải để trước
những quyền lợi khác không?
Nhân chứng –
Có, nhưng tôn iáo của tôi cũng
phải được tự do tín ngưỡng.
Ông Amor – Người ta bảo
rằng phong trào này do cộng sản xúi dục. Có phải vậy không?
Một nhân chứng –
Không, phong trào này không phải
cộng sản, chính là một phong trào tôn giáo, cộng sản không có tôn
giáo.
Về điểm này, xin trích dẫn quan điểm của Lê Duẩn trong Thư vào Nam
như sau:
“Muốn thế, phải lập ra nhiều tổ chức
biến tướng dưới nhiều mầu sắc, tồn tại và đấu tranh một cách công
khai, hoặc nửa công khai, để có thể thu hút quần chúng rộng răi.
Đối với những tổ chức có tính cách quần
chúng rộng răi sẵn có như phong trào phật giáo, học sinh và sinh
viên, ta nên t́m cách đưa người vào để nắm cho được t́nh h́nh.”
Trích Thư
vào Nam, Lê Duẩn trang 72, nxb Quân đội Nhân Dân, 2005.
Và đây là t́nh trạng sau 1963:
“Thí dụ như khi ta đă đánh
tan ba, bốn sư đoàn địch và tiến hành tổng khởi nghĩa; hoặc trước
hay sau đó, ta có thể làm sâu sắc thêm t́nh trạng khủng hoảng của
địch bằng cách thúc đẩy bọn cầm đầu ngụy quân, ngụy quyền ở một số
địa phương miền Trung đ̣i ly khai chính quyền Sài G̣n. Nếu các điều
kiện nói trên trở thành hiện thực, th́ t́nh h́nh có thể phát triển
nhảy vọt ‘một ngày bằng 20 năm’ như Mác nói.”
Trích Thư
vào Nam, Lê Duẩn, trang 68
Sau 1963 th́ sự xâm nhập của cộng sản
vào tổ chức Phật giáo là điều không c̣n xa lạ và không thể tranh căi
được nữa.
“Việc xây dựng cơ sở quần
chúng để thâm nhập nơi đây bắt đầu bằng một tổ chức: Liên Đoàn sinh
viên Phật tử Vạn Hạnh.. Trong những ngày tháng năm sau đó, sinh viên
Vạn Hạnh tham gia việc tiến chiếm và pḥng thủ tại “pháo đài” ṭa
đại sứ Lonnol. Sáng ngày 2-5, tại Vạn Hạnh hơn 2000 sinh viên đă tổ
chức lễ tưởng niệm đồng bào bị tàn sát ở Campuchia”..
Trích
“Trui rèn trong lửa đỏ”, trang 93, nxb Văn Nghệ thành phố.
“Từ những ngày đó, Vạn Hạnh trở
thành một pháo đài xuất quân đốt xe Mỹ và chống bầu cử”.
Trích như
trên, trang 96
“Những ngọn lửa bùng lên tuyệt
đẹptrên đường phố và những chiếc xe Mỹ rụi tàn. Báo chí Sài G̣n, với
những hàng tít lớn, dồn dập đưa tin xe Mỹ bị đốt. Các báo gọi những
“chiến sĩ” đốt xe Mỹ là du kích quân sinh viện học sinh. Chùa Ấn
Quang trong những ngày ấy, là một trong những chiến lũy của họ.
Những người mẹ những người chị vượt qua những hàng rào cảnh sát, lựu
đạn cay, ṿi phun nước..đến với những đứa con ngoan của thành phố,
đem cho “tụi nó” những giỏ cam, những ổ bánh ḿ, những chai xăng.
“Tụi bây cứ đốt, đốt hết cái quân chó đó đi..”, các mẹ, các chị căn
dặn, nhắc nhủ với một ḷng thù căm như vậy.”
Trích
Trui rèn trong lửa đỏ, trang 119, nxb Văn Nghệ thành phố.
Ô. Amor – Ông có chắc chắn
rằng không có kẻ đối lập chính trị nào lợi dụng các yêu sách Phật
giáo xâm nhập vào phong trào tuyên truyền chống chính phủ với mục
đích lật đổ chính phủ không?
Nhân chứng – Cộng
sản không có tôn giáo làm sao họ có thể khuyến khích phong trào này?
Chúng tôi chỉ có thể nói về chúng tôi. Tất nhiên, các phật tử không
có mục tiêu chính trị - tại sao chúng tôi nghĩ đến? C̣n các người
không phải là Phật tử có lợi dụng cơ hội để tuyên truyền chống chính
phủ hay không, chúng tôi không rơ.
Ông Trưởng phái đoàn –
Trong chùa này, người ta có làm chính trị không?
Nhân chứng –
Trước kia, các Thượng Tọa và Đại
Đức thường đến hành lễ tại đây vào những ngày lễ. C̣n về phần chúng
tôi, chúng tôi không có làm ǵ khác hơn là tụng kinh niệm Phật.
Chúng tôi không rơ trong lănh vực chính trị những vị tăng cao cấp có
đóng vai tṛ ǵ không?
Nhân chứng số 4
Ông Trưởng phái đoàn –
Chúng tôi nghe nói Phong trào Phật giáo này là do người ngoại quốc
xúi dục để theo đuổi những mục tiêu chính trị. Như thế có đúng không?
Nhân chứng:
Tôi không biết
Nhân chứng số 36:
“Cả gia đ́nh tôi theo Phật giáo, tôi
làm việc cho một hăng Hoa Kỳ, không làm cho chính phủ. Là người
theo Phật giáo, tôi chỉ nói điều ǵ có lợi cho Phật giáo. Tôi muốn
ông biết tôi không đến đây để ủng hộ chính phủ, tôi đến đây với tư
cách công dân và muốn phái đoàn biết rơ sự thật: Các cuộc biểu t́nh
tự thiêu đều do cộng sản xúi dục, v́ Việt cộng không thể lợi dụng
dân chúng được, họ quay về các nhà sư tu hành lợi dụng họ chống
chính phủ nhưng các phật tử không ư thức được Việt Cộng ủng hộ họ
chỉ để lợi dung phong trào của họ. Tôi cũng được mời khuyến khích
biểu t́nh, đôi khi với sự dọa nạt”
Về Dụ số 10
Theo ông Bộ trưởng Bùi Văn Lương: Dụ
số 10 ra đời từ năm 1950, thời kỳ Quốc Trưởng Bảo Đại c̣n tại chức.
Theo Hiến Pháp, mọi sửa đổi đều phải
do số Nghị sĩ quốc hội yêu cầu. Trong nhiệm kỳ Quốc Hội thứ nhất,
đại đa số nghị sĩ là Phật tử, trong nhiệm kỳ sau, bầu năm 1959 cũng
vậy. Không có một nghị sĩ nào đề nghị sửa đổi Dụ số 10. Bởi không có
đơn đề nghị sửa đổi, nên theo đúng những điều khoản trong Hiến Pháp,
Quốc Hội không trù liệu nghĩ đến việc sửa đổi Dụ ấy.
Ô. Correa-Da-Costa – Tôi mong được biết đích xác điều này:
sự yêu cầu sửa đổi chỉ do một số nghị sĩ hay phải được đa số tuyệt
đối nghị sĩ trong Quốc Hội đệ tŕnh?
Ô. Bộ Trưởng –
Theo luật, một số nghị sĩ phải đệ tŕnh đề nghị sửa đổi và, trong
trường hợp ấy, đề nghị của họ phải được thảo luận.
Ô. Trưởng Phái đoàn – Câu
hỏi của tôi như sau: Tại sao chính phủ không tự ḿnh đưa ra sáng
kiến sửa đổi Dụ ấy?
Ô. Bộ Trưởng – Đây chính là
điều tôi sắp nói. Muốn đề cập đến sửa đổi một Đạo Dụ hay không,
phải chú ư đến hai điểm: Điểm thứ nhất, phải xét xem sự sửa đổi có
cần thiết hay không, thứ hai, phải có đơn thỉnh nguyện của dân chúng.
Về điểm thứ nhất, cho đến khi vụ Phật giáo bùng nổ trong tháng 5/63,
chúng tôi nhận thấy không cần thiết phải sửa đổi Dụ ấy, v́ mặc dù
những điều khoản rất nghiệt ngả và sự dự trù việc kiểm soát rất chặt
chẽ của nó đối với các hiệp hội, chính phủ chưa bao giờ áp dụng Dụ
ấy một cách nghiêm khắc.
Nhiều điều khoản trong Dụ, như sự bắt
buộc phải khai báo với Bộ Nội vụ danh sách những Hội viên của chùa
thường được làm ngơ, nhất là tại các tỉnh. Ngay ở thủ đô, bộ Nội vụ
cũng không thấy có giấy tờ khai báo ǵ cả. Từ 1954 cho đến tháng 1
năm 1963, chúng tôi không nhận được một đơn từ khiếu nại hay yêu cầu
sửa đổi Dụ số 10 nào cả.
Những tài liệu mật, bắt được trong các
chùa, mà tôi sẽ cố gắng gửi đến các ông thật sớm chứng tỏ một cách
đầy đủ rằng chính phủ đă trợ giúp cho các chùa rất nhiều; không một
khoản nào trong các văn kiện ấy có nói đến sự xin sửa đổi Dụ số 10.
Để kết luận, tôi xin tuyên bố rằng từ
ngày Bản thỏa hiệp 16 tháng 6 được kư kết giữa chúng tôi và Phái
đoàn Phật giáo, chúng tôi đă yêu cầu Quốc Hội thành lập một ủy ban
để cứu xét thể thức sửa đổi Dụ số 10. Trong thời gian chờ đợi sửa
đổi, Dụ số 10 được ngưng thi hành.
Kết luận: Cũng nên ghi
nhớ rằng từ năm 1950, nghĩa là từ 13 năm nay, không có một hội tôn
giáo nào, Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, gợi lên những vấn đề liên
quan đến căn bản của Dụ số 10 nói trên. Mặc dầu thế, để đáp lại
nguyện vọng của phái đoàn Phật giáo, Tổng Thống VNCH đă chỉ thị cho
ông Bộ trưởng nội vụ tiếp xúc với cơ quan lập pháp để nghiên cứu
những sửa đổi cho Dụ số 10, và Quốc Hội đă thành lập một Ủy ban đặc
biệt có nhiệm vụ xem xét toàn diện vấn đề liên quan đến các Hội
truyền giáo.
Về Dụ số 10 này th́ ngay các vị lănh đạo hàng đầu của Phật giáo
cũng không biết tới v́ thế họ không thể dùng làm tiêu chuẩn quy
chiếu trước phái đoàn điều tra LHQ về sự bất công của Đạo dụ này.
Không một nhân chứng lănh đạo Phật giáo nào đă sử dụng Đạo dụ số 10
nhằm tố cáo chính phủ đă dùng Đạo dụ này để kỳ thị Phật giáo ở điều
khoản nào.
Và giả dụ họ biết rơ đựoc tính chất Dụ số 10 này th́ tại sao không
nhờ các vị Thượng nghị sĩ liên danh Phật giáo yêu cầu Quốc Hội sửa
đổi hay hủy bỏ theo đúng thủ tục pháp lư ngay từ những năm đầu của
nền đệ nhất cộng ḥa?
Năm 1950 Quốc trưởng Bảo Đại ban hành đạo dụ số 10 điều chỉnh các
tổ chức hội đoàn trong đó các tôn giáo được xem như các hiệp hội.
Đạo dụ này đặt ra những hạn chế đối với các hội đoàn, tôn giáo như
chỉ cho phép các hội đoàn, tôn giáo có nguồn thu nhập là các lệ phí
hội viên (h́nh thức đặt thùng lạc quyên,
công đức là bất hợp pháp);
hạn chế bất động sản của các hội, tôn giáo: chính quyền có thể buộc
đấu giá các bất động sản của các hiệp hội, tôn giáo; chính quyền v́
lư do trị an có thể không cấp phép hoặc thu hồi giấy phép lập hội...
Đặc biệt trong đạo dụ này có điều khoản 44 có quy định chế độ "ưu
tiên đặc biệt" cho các hội truyền giáo Thiên chúa giáo, đặt Công
giáo ra ngoài sự điều chỉnh của đạo dụ này. Thực chất đây là một
chính sách thiên vị về tôn giáo của nhà cầm quyền bảo hộ Pháp.
(DCVOnline - Nguồn: Wikipedia.org)
Về vụ thảm sát Đài phát thanh Huế
Phái đoàn
đă không hỏi các nhân chứng về vấn đề này nên sau đây chỉ là lời
giải thich về phía chính phủ mà thôi.
Thuyết
tŕnh của Thiếu tướng Trần Tử Oai:
“C̣n bảo rằng chính phủ đă
ra lệnh tàn sát các người biểu t́nh bằng xe thiết giáp, súng đại bác,
súng trường và lựu đạn th́ đó chỉ là vu khống. Tất cả những vết
thương xét thấy trên các thi thể nạn nhân, theo sự khám nghiệm của
các nhà chuyên môn về y khoa là hoàn toàn là do chất nổ Plastic, mà
quân đội VNCH cũng như các lực lượng an ninh không bao giờ có, mà
chỉ bọn cộng sản mới có. Tuy thế, Tổng Thống cũng ra lệnh mở cuộc
điều tra để t́m xem trách nhiệm về ai.”
Ư kiến của Bộ Trưởng Bô nội vụ, ông Bùi Văn Lương:
“Tôi đến
quan xác những xác chết. Phần nhiều những xác này đều mất sọ, có
cái bị thủng ở ngực v́ những mảnh kim khí, nhưng không có cái nào bị
thương ở phía dưới ngực. Không có những mảnh kim khí ở trong người,
mà chỉ có những vết thủng. Tôi yêu cầu y sĩ giải phẫu và gởi kết quả
cho tôi. Ông này đă khám nghiệm rất kỹ càng, chụp ảnh và đă cắt xén
những bộ phận để quan sát, và đă gởi vào Sàig̣n cho tôi những kết
luận”.
Về sau, có những tin đồn rằng “xe tăng” đă xông vào trong đám đông
và nghiến nát người; thật ra, không ai dùng xe tăng cả, mà chỉ có
những xe bọc sắt hạng nhẹ; và những người chết không phải bị xe
nghiến; đầu của họ bị văng xa v́ chất nổ và họ chỉ bị thương ở ngực
trở lên mà thôi. Kết luận của vị y sĩ khám nghiệm chứng nhận rằng họ
bị chết v́ chất nổ mănh liệt, và cả 8 người đều chết ngay. Tất cả
các xác chết đều t́m thấy ở trên thềm và không phải ở ngoài sân,
không có mảnh kim khí nào trong những xác chết hay trên thềm xi măng....
Thiếu niên Phật tử chết trước
ĐàiPhát thanh Huế ngày 8/5/1963
Nguồn: Nguyễn Đắc Xuân
--------------------------------------------------------------------------------
Theo ư kiến của những pháo binh đă
tiếp xúc ở Huế và Sài G̣n, người viết có thể kết luận rằng đây chắc
là những bom Plastic. (“Chúng tôi có rất
nhiều đạn dược do Mỹ cung cấp, nhưng không có plastic. Plastic là
thứ khí giới của bọn du kích Việt Cộng.”)
Một nghi vấn rất quan trọng là Thiếu
tá Đặng Sỹ sau này bị kết án 20 năm khổ sai được coi như người thừa
hành ra lệnh sát hại 8 em Phật tử, vậy mà ông lại không có tên trong
danh sách của phái đoàn điều tra LHQ? TT Thích Trí Quang giải thích
ra sao về vấn đề này?
Để biết rơ thêm chi tiết một cách đầy
đủ về vụ tàn sát trước đài phát thanh Huế ngày 8-5-1963, xin mời độc
giả đọc bài Lịch sử c̣n đó của Nguyễn Văn Lục trên
DCVOnline.net,16/06-21/06/2006.
Cho đến nay, không có một bằng cớ có tính cách pháp lư nào buộc cho
ông Ngô Đ́nh Cẩn và Đặng Sỹ trong việc sát hại 8 nạn nhân này mà TT
Thích Trí Quang gọi là các thánh tử đạo, một chữ dùng rất sai lệch
và không đúng chỗ. Các em đâu có phải t́nh nguyện hy sinh có chủ
đich v́ đạo đâu mà là chết oan v́ những âm mưu chính trị dấu mặt.
Thủ bút của ông Ngô Đ́nh Cẩn cảm ơn
luật sư Vơ Văn Quan đă biện hộ cho ông
Nguồn: OntheNet
--------------------------------------------------------------------------------
Về vụ án cũng như vụ xử bắn ông Ngô Đ́nh Cẩn đă được nhiều báo thời
đó đăng tải như báo Thần Chung với kư giả lăo thành Nam Đ́nh các
ngày 18-19-07-1965 với h́nh ảnh các ông chánh án Lê Văn Thụ, công tố
viện thiếu tá Lê Văn Đức và luật sư biện hộ Vơ Văn Quan cùng với ảnh
ông Ngô Đ́nh Cẩn trước ṭa án, ảnh mặc áo dài đen, áo mà mẹ ông đă
may cho ông trước đây, ông bị cột vào trục xử bắn, ảnh sau khi bị xử
bắn, v.v... Riêng tờ báo Tiếng nói Dân tộc có phụ trương đặc biệt
ngày 1-1-1963 với bài tường thuật nhan đề như sau: “Vô
cùng kinh ngạc về thái độ dửng dưng và thật trầm tĩnh của con người
được mệnh danh là Út Trầu lúc mà Cẩn bị bác đơn xin ân xá.”
Kư giả viết tiếp:
“Ông
Cẩn im lặng chỉ hở môi để cảm ơn luật sư Quan và yêu cầu đừng bịt
mắt v́ ông không sợ chết. Điều đáng lưu ư là những tội đưa ra kết án
ông Cẩn không có tội nào liên quan đến kỳ thị, đàn áp tàn sát Phật
tử ngay cả nói xa nói gần đến vụ Phật giáo cũng không, mặc dầu vụ
Phật giáo khởi đầu từ miền Trung là nguyên nhân trực tiếp làm sụp đổ
chế độ và đưa ông Cẩn ra xét xử kết án tử h́nh.”
Độc giả có
thể đọc thêm bài viết củakư giả Lư Quư Chung và bài điểm sách “Hồi
kư không tên” của Lư Quư Chung với tựa đề “Nhật kư của im lặng” của
Nguyễn Văn Lục đă đăng trên DCVOnline.net, 12-17/05/2006 để biết rơ
thêm về cái chết của ông Ngô Đ́nh Cẩn.
(C̣n tiếp)
|
LHQ
và vụ khủng hoảng Phật giáo 1963 (IV)
T́m hiểu bản bá cáo của phái đoàn điều tra Liên Hiệp
Quốc về vụ đàn áp Phật giáo 1963
Về các vụ tự thiêu
Phái đoàn điều tra LHQ đă yêu cầu ông Bộ Trưởng Bùi
Văn Lương cung cấp các thư viết tay, nếu có của các
vị sư đă tự thiêu, nhất là vị sư đă tự thiêu ngày
27-10 trong lúc phái đoàn đang ở Sài G̣n.
Ông Bộ trưởng đă trả lời như sau:
“C̣n về sự
có thể có một bức thư hay nhiều bức thư của
kẻ tự thiêu để lại, tôi cũng ở trong trường
hợp như quư phái đoàn, nghĩa là chỉ nghe
những phóng viên báo chí ngoại quốc cả quyết
rằng có những bức thư ấy. Cuộc điều tra sẽ
cho biết chắc chắn có một hay nhiều bức thư
ấy. Kết quả và những kết luận của những cuộc
điều tra về các vụ tự thiêu trước cũng vậy.
Những kết quả của cuộc giải phẫu thi thể kẻ
đă tự thiêu hôm chủ nhật trước vừa được gửi
đến cho tôi hôm qua, v́ bộ y tế tiến hành
một cuộc phân tích những bộ phận rất kỹ
lưỡng. Quư ông có thể đọc thông cáo và những
kết quả cuộc giải phẫu hiện đang nằm ở bàn
giấy của tôi. Nạn nhân bị bệnh lao trầm
trọng và hai lá phổi có nhiều lỗ thủng, mỗi
lỗ dài hàng mấy phân tây.
(…)
Chúng tôi đă bắt liên lạc được với 4 người
và nhờ phương pháp cải huấn, chúng tôi đă
thảo luận với họ: “Các người không thích
sống sao? Các người có điều ǵ bất măn với
chính phủ không? Tại sao các người muốn tự
tử? Họ đă viết một bức thư ngỏ, thú nhận sự
sai lầm của họ và tự nguyện sẽ đứng trước
máy phát thanh để nhận lỗi và kêu gọi năm
người bạn c̣n lại của họ
( một người đă tự thiêu)
đừng nghe tuyền truyền láo khoát và công
nhận họ đă lầm.Trong bức thư, họ tuyên bố họ
bị giữ và canh chừng ở trong các chùa hay ở
những nơi khác, bởi tổ chức bí mật, và có
một số người đă nói cho họ biết trong khi
đến lùng xét tại các chùa ngày 21 tháng 8,
nhiều vị sư cầm đầu đă bị giết chết. Đó là
sự xuyên tạc sự thật.
Nhân
chứng số 8
Đặc biệt nhân chứng số 8, một chú tiểu 19 tuổi
kể cho phái đoàn biết chú bị một người tên Linh
dụ dỗ tự thiêu vào ngày Quốc Khánh có sự hiện
diện của phái đoàn LHQ. Chú sẽ nhận được một tấm
áo cà sa đă tẩm xăng và sẽ có người chở chú vào
khu vực cấm. Đến nơi, chú chỉ mặc tấm áo cà sa
có tẩm xăng rồi quẹt diêm châm lửa đốt. Nhưng
trước đó, người ta sẽ cho chú mấy viên thuốc
uống chống đau. Một buổi sáng, người thanh niên
lạ mặt đă đến chùa và trao cho chú ba bức thư
viết sẵn, một gửi tổng thống VNCH, một gửi
thượng tọa Thich Thiện Ḥa, trụ tŕ chùa Ấn
Quang, kết tội thượng tọa đă phản bội tăng ni và
tín đồ Phật giáo và một gửi phái đoàn LHQ cho
biết lư do tại sao tự thiêu và bảo chú kư tên
vào ba bức thư đă soạn sẵn. Người thanh niên cho
chú biết Tổng hội Phật giáo đă thay đổi danh
hiệu. Tổng hội mới này làm việc cho cộng sản.
dặn chú tối 25/10 sẽ đến đón chú đến một nơi bí
mật để sáng hôm sau đến nơi hành lễ.
Nhưng rủi thay, tôi bị cảnh sát bắt trước khi
người thanh niên đến chùa. Và nay th́ tôi sẽ
khuyên mấy người kia đừng tự thiêu nữa.
Trong số 10 người có tên trong danh sách tự
thiêu, chỉ có một người là nhà sư Thiện Mỹ đă
chết.
Trường
hợp tự thiêu của ḥa thượng Thích Quảng Đức
Theo lời tường tŕnh của của ông bộ trưởng bô
nội vụ th́ có một người đàn bà thân cận với Ḥa
thượng Thích Quảng Đức cho hay có đến thăm ḥa
thượng th́ nay ông đổi ư định không muốn tự
tthiêu nữa. Nhưng công việc tổ chức cho việc tự
thiêu vẫn tiến hành. Ḥa thượng được đưa lên một
xe hơi Austin và đi tới trước ṭa Đại sứ Cam Bốt.
Theo ông Bộ trưởng, nhà sư không đi một ḿnh và
phải có hai người đi bên cạnh đỡ hai bên nách,
d́u di. Có thể là ông ta đă uống quá nhiều thuốc.
Các vị sư khác tưới dầu xăng vào ông ta. Những
nhiếp ảnh viên và đại diện báo chí đă đứng sẵn ở
đây, trước ṭa Đại sứ. Tất cả mọi người, trừ
chính phủ, đều biết chuyện ấy. Nạn nhân lấy ra
một cái bật lửa, đánh lên, nhưng cái bật lửa
không cháy, một vị sư khác đă đốt ông ta với một
que diêm.
• V́ sao cái bật lửa không cháy? Đó là một câu
hỏi cần được đặt ra. Nhà sư Quảng Đức đă rút đá
lửa ra trước rồi chăng? Chúng tôi đă cố lùng bắt
nhà sư đă quẹt diêm đốt. Ông Bộ trưởng nói tiếp,
nhưng không bắt được. Hoặc là v́ hối hận, nhà sư
này đă đi ẩn trốn, hoặc là bọn cộng sản đă bắt
giữ ông ta, v́ sự làm chứng của ông ta sẽ vô
cùng quan trọng.
Thật ra những câu hỏi của ông Bộ trưởng nội vụ
đặt ra trong tư thế người của chính quyền đặt ra
không lấy ǵ làm khả tín và quan trọng. Điều
quan trọng là kể từ đó đến nay đă 50 năm nay,
ngay cả giới lănh đạo hay trí thức Phật giáo
chưa hề thấy bất cứ bài viết nào của giới tăng
sĩ Phật giáo dùng tập tài liệu gồm 300 trang này
như chứng từ viết về vụ đàn áp Phật giáo năm
1963.
Điều đó làm cho những ai quan tâm đến biến cố
1963 đặt ra những dấu hỏi. Biến cố Phật giáo năm
1963 c̣n có nhiều vấn đề cần được t́m hiểu và
nghiên cứu. Trong tương lai, sẽ có một học bổng
của Mỹ trị giá 40 ngàn đô la dành cho một sinh
viên tiến sĩ người Việt Nam nghiên cứu riêng về
vụ tự thiêu của Ḥa Thượng Thích Quảng Đức.
Chúng ta chờ xem.
Nhận
xét nguyên do sâu xa của biến động Phật giáo năm
1963
Thường th́ giới lănh đạo Phật giáo chỉ nêu lên
những nguyên nhân trực tiếp đưa tới việc Phật
giáo phải đứng lên chống chính quyền Ngô Đ́nh
Diệm. Cụ thể như có đàn áp tôn giáo xảy trong 4
tỉnh miền Trung như một vài nhân chứng đă tố cáo
với phhái đoàn điều tra LHQ.
Nhưng việc bùng nổ biến động Phật giáo lại khởi
đi từ một việc xem ra tầm thường là việc chống
treo cờ Phật giáo.
Điều đó tuy tầm thường, nhưng cắt nghĩa được.
Bởi v́ hẳn là có những sự việc bị dồn nén, có
những điều bất công được tích lũy, có những điều
chướng tai gai mắt xảy ra hằng ngày cứ thế được
kết tinh lại. Sự kết tinh ấy chọn ra được một
biểu tượng cơ hội rất ư nghĩa: Đó là việc triệt
hạ những lá cờ Phật giáo xuống trong ngày lễ lớn.
Biểu tưởng lá cờ bị xúc phạm biến thành biểu
tượng Phật giáo bị xúc phạm. Biểu tượng được
nhân lên nhiều lần cứ thế mà lớn lên măi biến
thành một biểu tượng tranh đấu.
Tuy nhiên, nh́n biến động Phật giáo không đơn
giản chỉ là việc triệt hạ những lá cờ, không
phải chỉ là những lạm dụng tổ chức của cơ quan
chính quyền hay của các cá nhân.
Nhưng cần lưu tâm đến yếu tố lịch sử Phật giáo
trong quá khứ cũng như tổ chức Phật giáo so với
Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Ḥa Hảo.
Nghĩa là cần một cái nh́n lịch sử về Phật giáo.
Một số bài viết liên quan đến Phật giáo thiếu
một cái nh́n toàn cảnh của Phật giáo trong bối
cảnh miền Nam nói chung. V́ thế, giải thích
phong trào Phật giáo một cách phiến diện và dành
một “ưu thế” về tính cách chính đáng của các
cuộc vận động Phật giáo cũng như các cuộc tranh
đấu xuống đường. Từ đó một cách mặc nhiên coi
chính quyền VNCH là đối tượng của những sai lầm
trong chính sách đường lối đối với Phật giáo. Và
biến các vị lănh tụ Phật giáo như Thich Trí
Quang, Thích Tâm Châu, Thích Nhất Hạnh trở thành
những nhân vật lănh đạo tôn giáo tăm tiếng hàng
đầu.
Nội dung các bài viết ấy v́ thế không làm sáng
tỏ được cái bản chất Phật giáo Việt Nam trong
khung cảnh trước 1954 và sau 1954.
Không biết đến bản chất của Phật giáo th́ việc
thẩm định thiếu căn cơ và hời hợt.
Tiếp đến, tác giả thiếu kiến thức xă hội, chính
trị cũng như lịch sử Việt Nam, coi việc tranh
đấu cho tự do, dân chủ, tôn giáo là điều mặc
nhiên, không cần bàn căi nữa. Viết như thế, là
gián tiếp thừa nhận Việt Nam đă có sẵn một
truyền thống chính trị dân chủ, tự do lâu đời,
dân trí cao như nước Mỹ và từ đó áp đặt các
khuôn mẫu tư tưởng như tự do, dân chủ trên một
cách máy móc không điều kiện, không lư ǵ đến
hoàn cảnh một xứ chậm tiến như Việt Nam mà thật
ra những khái niệm dân chủ, tự do mới được nhập
cảng vào VN chỉ là những bài học vỡ ḷng chưa
thuộc.
Nước chậm tiến, lạc hậu mà ăn xài kiểu Mỹ, tranh
đấu dân chủ, tự do kiểu Mỹ, đ̣i thực thi dân chủ,
tự do kiểu Mỹ th́ đến một lúc nào đó chính quyền
nào rồi cũng phải ră đám, chưa kể cộng sản ŕnh
ṃ ngoài cửa ngơ giật giây và xâm nhập phá đám.
C̣n về phía các vị lănh tụ tôn giáo lại muốn mau
chóng thực hiện giấc mơ phát triển tôn giáo bằng
con đường đi tắt. Họ dùng các phương sách tranh
đấu đối đầu, phản kháng bằng bạo lực đám đông
như biểu t́nh, nhất là tự thiêu để đạt được một
cái căn cước bằng một giá rẻ mà b́nh thường đ̣i
hỏi nhiều thế hệ vun trồng mới đạt được.
Hăy lấy một trường hợp cụ thể, chẳng hạn để có
thể thụ đắc được khái niệm tôn giáo, tín ngưỡng
‘Đ́nh Làng’ của Việt Nam - một truyền thống văn
hóa hun đúc nuôi dưỡng lâu đời - nào phải chỉ
trong chốc lát mà có được để từ đó trở thành nếp
sống dân gian của tổ chức xă thôn.
Chính v́ Phật giáo thiếu chuẩn bị, thiếu một thứ
sinh hoat văn hóa tôn giáo truyền thống như khái
niệm “cái đ́nh” thiếu sự trưởng thành về nhân sự
lănh đạo, về tổ chức, về sự hiểu biết của Phật
tử mà sau khi đă loại bỏ được đối thủ th́ tổ
chức Phật giáo sinh ra nạn bè phái, chia rẽ như
chúng ta thấy.
Dù những bài viết trước đây có nhiều thiếu sót
tôi vẫn giữ nguyên nội dung mà không sửa chữa
lại. Điều đó cho thấy một diễn biến tư tưởng
trưởng thành hơn trong nhận thức.
Sau đây là những tŕnh bày của ông Ngô Đ́nh Nhu
về vấn đề Phật giáo cho phái đoàn Liên Hiệp Quốc
mà tôi nghĩ răng nó mở một lối ra cho ư nghĩa về
phong trào tranh đấu của Phật giáo.
Theo ông Ngô Đ́nh Nhu, vấn đề chính yếu đặt ra
cho đúng là vấn đề chậm tiến chung cho nhiều xứ.
Vấn đề Phật giáo nằm trong bối cảnh một nước
chậm tiến. Trong đó phong trào Phật giáo phát
triển mạnh, nhưng cán bộ không đủ nên có nhiều
sai lệch không tránh khỏi.
Ông Nhu nhận xét,
“Trong hoàn cảnh
lịch sử của các nước chậm tiến, Phật tử đă đi
lệch con đường giáo lư v́ thiếu cán bộ để nghiên
cứu.”
(Trích tài liệu trang 61)
V́ thế trong chính sách của người Mỹ sau này
dùng lực lượng Phật giáo như một sức mạnh tiềm
năng mới, họ khuyến khích nhiều nhà sư đi du học
qua các học bổng của cơ quan Asia Foundation do
CIA tài trợ.
Cho nên, dưới nhăn quan của một số nhà quan sát,
vụ Phật giáo chỉ là một khủng hoảng về sự phát
triển của Phật giáo, khủng hoảng vỡ da, vỡ thịt,
khủng hoảng trong tiến tŕnh thay đổi và cải
tiến - một khủng hoảng mà nhiều phe phái chính
trị đă biết lợi dụng để khai thác như phía Việt
Cộng và cả phía người Mỹ.
Nếu quan tâm đến sự phát ttriển Phật giáo, người
ta sẽ nhận thức rơ ràng là tôn giáo này đă phát
triển một cách quá mau lẹ đến nỗi ngay cả những
lănh đạo Phật giáo cao cấp cũng bất lực không
kịp đào tạo cán bộ và nhất là ngoài tầm tay kiểm
soát của họ. Phần lớn trong hàng lănh đạo, vốn
kiến thức bao gồm một số chữ Hán và kinh kệ từ
sách Tàu theo truyền thống Đại Thừa. Nhiều lối
tu học tản mạn theo từng ông thày mà sự giải
thích kinh kệ đôi khi tùy tiện. Đó là t́nh trạng
tu thiền hiện nay năm cha ba mẹ. Có thể có t́nh
trạng mất gốc như trong lời mở đầu cuốn Thiền
Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20TT Thích Thanh
Từ cho rằng cuốn sách nhằm bổ túc:
“Để
bổ cứu phần nào lối học Phật mất gốc
của Phật giáo đồ Việt Nam. (…) Có
lắm người Phật tử hâm mộ tu thiền,
song sự có mặt của nhiều lối tu
Thiền ở Việt Nam làm họ không biết
đâu là tà đâu chánh. Nếu người dè
dặt đành chịu chùn chân không biết
theo ai. Nếu người nhiệt t́nh nóng
bỏng nghe đâu theo đó, họ dễ bị lạc
vào thiền tà ngoại.”
(Trích “Thiền Tông Việt Nam”, Thích
Thanh Từ, trang 6-7 , nxb Thành Hội
Phật giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992, P.L
2536)
Việc tổ
chức lại rất là lỏng lẻo. Chẳng hạn
không có bất cứ một sổ sách danh bộ nào
cho biết số lượng Phật tử cũng như ngay
cả danh sách các cán bộ được đào tạo một
cách chính quy. Nói Phật giáo chiếm tỉ
lệ 80% phần trăm dân số cũng được mà nói
40% cũng không hẳn là sai.
V́ thiếu tổ chức và hệ thống hóa nên
nhiều khi chỉ cần thay đổi y phục, cạo
đầu, một người có thể dễ dàng trở thành
một cán bộ tôn giáo như một Đại đức.
Điều nhận xét đó dựa trên sự kiện kiểm
chứng được.
Nhân chứng số 38, một người đàn bà sống
ở Huế đă chứng kiến các vụ lộn xộn xảy
ra ở đó, nói với phái đoàn điều tra LHQ:
“Tôi có dự lễ ở chùa Tữ Đàm,
thầy Trí Quang đă giải thích
những biểu ngữ chống chính
phủ và đ̣i phát thanh ghi
những lời nói của Thượng tọa.
Ai cũng có thể làm nhà sư,
nên có sư thật sư giả: Vậy
có thể có những người trá
h́nh, tôi dám nói các nhà sư
quá khích nhất chính là cộng
sản và những nhà sư thật
không thể có những hành động
bạo lực ganh tị. Tổng thống
Diệm là người theo đạo Thiên
Chúa giáo, nhưng có thái độ
khoan dung đối với các tôn
giáo. Trong nhiều trại lính,
có những chùa bên cạnh các
nhà thờ.”“
(Trích dẫn phần thẩm vấn các
nhân chứng từ trang 102.)
Sau 1975, theo như lời tuyên bố
của TT Thích Trí Thủ cho phóng
viên Alain Ruscio để giải thích
t́nh trạng sa sút số lượng tăng
ni không do lỗi của “cách mạng”,
ông cho rằng có đến 20 ngàn tăng
ni trú ẩn trong các chùa trước
1975 chỉ là thành phần trốn quân
dịch và sau 1975 th́ bỏ tu trở
về đời sống dân thường.
“La diminution
assez rapide du
nombre des bonzes
est un fait.Au sud,
on est passé, de
1975 à 1978, de
30.000 à 10.000
bonzes... La guerre
Américaine avait, le
plus souvent
artificiellement
gonflé les rangs du
bouddhisme. Ont
affllúe dans ses
rangs, pour des
raisons
circonstantielles,
des dizaines de
milliers d’hommes
jeune:
essentiellement des
jeunes menacés par
la conscription et
désirant échapper à
celle-ci”
(Trích Vivre au Viet
Nam, Alain Ruscio,
trang 170, éditions
sociales, 1981)
Sự giảm
số lượng các nhà sư là
một sự thể có thật. Ở
miền Nam, từ năm 1975
đến 1978, số lượng nhà
sư từ 30.000 xuống c̣n
10.000 người. Chiến
tranh của người Mỹ đă
làm thổi phồng con số
các nhà sư một cách giả
tạo. Hàng chục ngàn
người đă gia nhập hàng
ngũ các người tu tŕ v́
những lư do hoàn cảnh,
nhất là những người trẻ
bị đe dọa phải đi quân
dịch và họ đi tu như một
cách để trốn lính.
Về mặt phát triển, cũng
phải nh́n nhận sự phát
triển ấy tiếc thay nặng
về xây dựng cơ sở. Tôi
gọi tên căn bệnh đó là
bệnh xây cất, maladie de
la pierre.
Phát triển đồng nghĩa
với xây cất.
Bệnh đó không nhất thiết
chỉ xảy ra với khối Phật
giáo. Một ông cha xây
dựng xong được căn nhà
thờ, nhà xứ coi như là
măn nhăn cả đời, không
muốn bị đổi đi chỗ khác.
Hiện trạng Phật giáo
hiện nay ở trong nước
cũng không hơn ǵ. C̣n
tồi tệ hơn trước nữa.
Làm thế nào xây được
chùa lớn nhất, tượng
Phật to, cao và nặng
nhất, Xá Lợi th́ rước
linh đ́nh thuê bao hẳn
một chiếc máy bay rồi
đón tiếp bằng các loại
xe hơi xịn nhất.
Chính quyền cộng sản lại
khuyến khích những
chuyện như thế, hỗ trợ
những điều ấy.
Ngoài ra, c̣n nặng về
phần h́nh thức nghi lễ
tụng niệm, ngay cả không
ngần ngại bắt chước một
số nghi thức của tôn
giáo bạn. Tôn giáo mau
chóng biến thành những
“dịch vụ” cho ma chay,
cưới hỏi, cầu siêu, cúng
quả, buôn thần, bán
thánh.
Khi ra thăm ngoài Bắc,
tôi đă ngán ngẩm cái
sinh hoạt Phật giáo
“dịch vụ” ấy rồi.
(C̣n tiếp)
|
T́m hiểu bản báo
cáo của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ đàn áp Phật giáo
1963
Trở lại
biến động Phật giáo 1963 cho thấy vấn đề tự do tôn giáo không
phải là vấn đề độc nhất mà chính phủ lúc đó phải đương đầu.
Vấn đề chính là công bằng.
Ngoài ra c̣n có những vấn đề xă hội, kinh tế, chính trị, quân sự
phải giải quyết.
Theo ông Nhu, khi chế độ thực dân đi vào tàn tạ th́ có phát
triển và phục hưng các tôn gíáo. Nhưng với Phật giáo, vấn đề
phục hưng không đóng một vai tṛ quan trong v́ theo tinh thần cổ
truyền, nếp sống của Phật giáo vẫn giữ tinh thần tự trị của chùa
chiền.
Ông Ngô Đ́nh Nhu nhận xét:
“Vào thời kỳ ấy cũng cósự
phục hưng trên b́nh diện tôn giáo. Đây là một hiện tượng
để xác nhận phẩm giá của Việt Nam về địa vị của ḿnh
trên trường quốc tế.
Đối với Phật giáo, sự phục hưng không đóng một vai tṛ
quan trọng lắm trong những ngày tàn của thời kỳ thực dân,
và sự kiện ấy có nhiều lư do: Theo cổ truyền của xứ sở,
tinh thần tự trị của chùa chiền đă ăn sâu trong Phật
giáo Việt Nam. Trước đây, mỗi ngôi chùa là một giáo
đường riêng biệt. Mỗi vị trụ tŕ và bổn đạo làm thành
một cộng đồng độc lập. Giáo lư nhà Phật và tính t́nh
người Việt Nam đều mang mầu sắc cá nhân. Vấn đề tu dưỡng
chỉ là việc riêng của mỗi người. V́ thế, những sự cố
gắng đă bị phân tán, không hợp nhất, tuy lúc đó đă có
một phong trào để đi đến thống nhất. Sự suy tưởng nội
tâm của Phật giáo và tính t́nh người Việt tạo nên một
hiện tượng ly tán. Dù muốn dù không, phải công nhận rằng
có nhiều vấn đề quan trọng cần giải quyết và người ta tự
hỏi không biết Phật giáo có thể giải quyết nó như thế
nào.”
Cùng một nhận xét như ông Ngô Đ́nh Nhu, Topmiller nhận thấy
tính cách trổi bật nơi Phật giáo là tính cá thể và tản quyền
trong tổ chức Phật giáo.
Nó như một đặc điểm riêng của Phật giáo. Tính cách cá thể
trong các tổ chức Phật giáo bắt buộc một số nhà lănh đạo
Phật giáo phải nghĩ đến việc thống nhất Phật giáo thành một
tổ chức duy nhất.
Những nỗ lực ấy thường không đạt được sau nhiều cố gắng thử
nghiệm và cho đến hiện nay nỗ lực ấy vần là một sự thất bại
chưa vượt qua được.
Ngay cả khi có vận hội để họ trở thành một khối Phật giáo
thống nhất như trong biến cố Phật giáo 1963, điều đó cũng
không xảy ra như ḷng mong muốn của nhiều nhà lănh đạo.
“Despite their success in
toppling Diem, Buddhists did not have an effective national
organisation at the end of 1963. The multiplicity of sects
in the country including significant numbers of both major
streams of Buddhism, and the historic autonomy of the pagoda
frustrated efforts to create an effective political vehicle
to transform the victory into an association that could
challenge the GVN and end the war.The decentralized nature
of Vietnamese Buddhism, likewise, worked against a
nationwide establishment, while the liberal doctrinal basis
of Buddhism invited the factionalism that plagued the
movement. Buddhist leaders retained the ability to call
thousand of followers into the streets when they articulated
a popular message, but they seldom had the means to hold the
separate factions together for an extended period of time.
In the end, they temporarily overcame the severe regional,
political and ideological divisions in the movement to
challenge the GVN. Nevertheless, although political
powerful, the organised Buddhist movement never represented
a majority of Vietnamese Buddhists.”
(Trích “The Lotus Unleashed: The
Buddhist Peace Movement in South Vietnam, 1964-1966”, By
Robert J. Topmiller, trang 6. Trích dẫn lại “Saigon Leader
Says Junta is Eager to Give Up Power, của Charles Mohr, The
New York Times, April 12, 1966:1 - DCVOnline)
Những nhận xét của ông Ngô Đ́nh Nhu
(1910-1963)
ăn khớp với những nhận xét của Charles Mohr
(1929-1989).
|
|
|
Ngô Đ́nh
Nhu (t), Charles Mohr (p)
Nguồn: LIFE
|
Nhưng theo nhận xét của
người viết bài này Phật giáo h́nh như chỉ có thể lớn mạnh và
được biết đến không hẳn nhờ vào lư thuyết Phật giáo mà nhờ
vào những vận động chính trị của các nhà sư trong mỗi thời
kỳ trong bối cảnh chính trị Việt Nam.
Thời Việt Minh, có sư cụ Phạm Thế Long, sư cụ trụ tŕ chùa
Cổ Lễ, tại phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định phát động Phật
giáo cứu quốc nằm trong mặt trận Liên Việt. Hàng loạt sư trẻ
đă bỏ chùa, cởi áo nhà tu đi “yêu nước”.
Ông Ngô Đ́nh Nhu đă nhận xét về các phong trào này như sau:
“Bắt đầu năm 1954, những tư
tưởng ấy trải qua nhiều thử thác cay chua. Sức mạnh của Phật
giáo được nhiều người biết tới nằm trong những vận động đó.
Nó vượt ra ngoài khuôn khổ giới hạn bởi địa phương hoặc một
ngôi chùa thường nằm đơn độc, lẻ loi.”
(Trích tài liệu LHQ, trang 52.)
Đến măm 1954, ở ngoài miền Bắc th́ có cụ Trí Độ, thấm nhuần
ánh sáng trí tuệ của chủ nghĩa Mác, cụ trụ tŕ tại chùa Quán
sứ. Người ta biết đến danh tiếng của cụ là do mối liên hệ
chặt chẽ với chính quyền cộng sản. Nhưng đến năm 1955, cộng
sản vào Hà Nội đă giải tán tất cả: đóng viện Phật học, giải
tán tăng ni ở đâu về đó, đóng của nhà in Đuốc Tuệ, v.v… Mọi
sinh hoạt phật giáo bị đ́nh trệ như hệt trong Nam vào năm
1975.
Có lẽ một trong những điều thất vọng nhất của người viết khi
t́m hiểu vấn đề Phật giáo là lúc đọc
Tự truyện
của TT Thích Trí Quang trong tập san Giao Điểm, số 26 tháng
tư, 1997.
Đó là một tập Tự truyện
vừa vắn tắt, vừa sơ sài, với những nhận xét đầy mặc cảm và
cảm tính, vụn vặt nhỏ nhoi khi ông cho rằng ông Ngô Đ́nh
Diệm muốn Thiên Chúa giáo của ông độc tôn, muốn anh ông là
Ngô Đ́nh Thục làm Hồng y giáo chủ nên ông Diệm kỳ thị đàn áp
Phật giáo. Cái làm không xuôi là cờ Phật giáo. Vatican điều
tra thấy Huế, địa phận của Tổng giám mục Ngô Đ́nh Thục sao
mà Phật giáo nhiều quá. Phật đản th́ cờ Phật giáo đầy hai
bên đường từ Huế ra La Vang, kiệu Đức mẹ th́ từ La Vang vào
Huế không có cờ của Vatican. Ông Ngô Đ́nh Diệm bèn bắt công
chức Huế phải báo cáo là giáo dân và Phật Đản 2507
(1963) th́ triệt hạ cờ Phật giáo
để Vatican thấy dân Huế theo anh ḿnh hết rồi.
Sự kỳ thị ấy c̣n thể hiện trong chính sách ấp chiến lược,
chỗ th́ rào chùa vào trong ấp để dễ kiểm soát, chỗ rào chùa
ra ngoài cho dễ kiểm soát, để dễ tự do bắn phá.
Chỉ trong ít ḍng vắn vỏi ấy, đầy những nhận xét vu vơ,
xuyên tạc và thiển cận. Ông không hề nhắc một chữ đến Ngô
Đ́nh Cẩn là người đă ra lệnh cho chức sắc cứ cho phép đă
treo cờ th́ cứ để cho họ treo cờ. Sau này, áp lực của ông để
hạ sát ông Ngô Đ́nh Cẩn một lần nữa nói lên cái tâm địa của
ông.
Cái tâm địa tốt của một nhà tu hành không có. Nó làm tôi
liên tưởng đến cuốn sách Hồi kư của Hoàng Linh Đỗ Mậu, nxb
Công An Nhân dân, toàn những chuyện vu khống và bịa đặt.
Về điều này, trong Bạch Thư của Ḥa Thượng Thích Tâm Châu có
nhắc đến trường hợp TT Trí Quang có viết thư cho ông Cẩn cam
đoan sẽ không có chuyện ǵ xảy ra nữa, sẽ chấm dứt mọi
chuyện nếu ông Cẩn cho phép tổ chức lễ cầu siêu. Ai là người
đáng tin giữa hai vị lănh đạo này? Chính ông Bộ trưởng Nội
vụ cũng được ông Trí Quang trấn an, bảo đảm không có chuyện
lộn xộn nữa như trong lời chứng ở trên.
Phải chăng vấn đề của Phật giáo là vấn đề của chậm tiến và
phát triển hay là vấn đề cảm thức sâu hận của con người? Khi
ông Ngô Đ́nh Thục ra Huế nhậm chức th́ tướng Trần Văn Đôn đă
điều động lính tráng ra Phú Bài đón tiếp dàn chào quá mức
giống như việc đón tiếp một ông tổng thống.
Chế độ ấy bị suy sụp do những lạm dụng không cần thiết xuất
phát từ một nhóm tướng tá hèn mạt như Trần Văn Đôn, Tôn Thất
Đính, Đỗ Mậu và một viên tỉnh trưởng kiêm thị trưởng vốn là
một phật tử cho thấy tŕnh độ dân trí như thế nào?
Tôi nghĩ không thể b́nh luận ǵ về sự “kém cỏi nhận thức”
này của ông Trí Quang được.
V́ thế, nói cho cùng, thông qua tiểu truyện Tự ghi,
vấn đề tranh đấu Phật giáo phải chăng chỉ là một vấn đề khơi
động sự hận oán trong tâm lư quần chúng?
Chính v́ thế, phải nh́n lại một cách trung thực biến cố Phật
giáo 1963 mà thành phần chủ động là Phật giáo đại thừa gồm
phần lớn sư săi gốc Bắc và Trung trong khi Phật giáo trong
Nam theo Tiểu Thừa tương đối ôn ḥa và đứng ngoài sinh hoạt
chính trị.
Sự trả lời của một số nhân chứng trong Ủy ban Liên phái cho
phép chúng ta có nhận xét như trên.
Trớ trêu thay, phái đoàn điều tra LHQ đều là thuộc hệ
phái tiểu thừa mà truyền thống Phật giáo có căn cơ, bám
gốc rễ vào đất nước họ đến có thể nói đó là những xứ sở của
Phật. Họ có văn hóa nếp sống Phật giáo ăn sâu vào tâm thức
họ nên không dễ dàng thuyết phục được họ về tính cách bạo
động trong cuộc tranh đấu Phật giáo ở Việt Nam. Điều đó cho
thấy sự lớn mạnh của đạo Phật cần một thời gian lịch sử lâu
dài với truyền thống văn hóa kết tinh, chọn lọc, kế thừa qua
các thế hệ. (“Phái đoàn LHQ gồm đại diện các quốc
gia Afghanistan, Brazil, Ceylon, Costa Rica, Dahomey,
Morroco và Nepal” đa số không phải là các quốc gia có dân là
Phật tử Tiểu thừa. Xem chú thích của DCVOnline.net,
phần I.)
Rơ ràng phái đoàn điều tra LHQ đă không chia sẻ những cách
thức tranh đấu của Phật giáo Việt Nam.
Trong khi cho đến thế kỷ 20, ảnh hưởng Nho giáo trong đời
sống chính trị, văn hóa, sinh hoạt xă hội, gia đ́nh là điều
không chối căi được.
Cả Phật giáo lẫn Thiên Chúa giáo, cho dù có dấu hiệu phát
triển đáng ca ngợi vẫn không đủ mức chín mùi và một sự thay
thế đột biến nào đó xét ra nguy hiểm, bât cập hơn là có lợi
cho xă hội Việt Nam.
Trong t́nh huống như thế, vấn đề Phật giáo phải được nh́n
trong bối cảnh một nước chưa ra khỏi chế độ phong kiến, thực
dân mà tŕnh độ dân trí c̣n yếu kém. Thành phần người lănh
đạo c̣n mang nặng tính chất phong kiến, quan liêu và lệ
thuộc.
Tránh sao khỏi vô số những lạm dụng và bất toàn?
Cho nên, bản phúc tŕnh của phái đoàn điều tra LHQ được công
bố vào ngày 13-12-1963 đă có đoạn kết luận như sau ra khỏi
mọi mong muốn của cấp lănh đạo Phật giáo tranh đấu:
“Những tố cáo
đệ tŕnh lên Đại Hội Đồng LHQ nhằm chống chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm không đứng vững sau khi phái
đoàn điều tra một cách khách quan. Không hề có
kỳ thị cũng như đàn áp tôn giáo cũng không hề có
sự đụng chạm đến tự do tín ngưỡng. Không thể có
một cách nào khác để phán đoán những dữ kiện
thực tế, những va chạm giữa một hệ phái, mà
không phải là toàn thể cộng đồng Phật tử Việt
Nam với chính quyền Ngô Đ́nh Diệm hoàn toàn có
tính cách chính trị. Đa số thành viên của phái
đoàn điều tra đều đồng ư với chủ tịch Ủy ban.
Report of the United
Nations Facts Finding Mission to South Viet Nam.
Washington: US government printing office ,
1964, 254 trang Bản phúc tŕnh này được LHQ công
bố ngày 13-12-1963, hơn hai tháng sau ngày đảo
chính 1-11-1963.
Trích bản dịch tiếng
Việt của Nguyễn Vy Khanh trong cuốn “Nỗ lực ḥa
b́nh dang dở” (Une
autre paix manquée).
Biến cố Phật giáo 1963 chẳng những là một thất bại
thê thảm về mặt chính trị, quân sự mà c̣n là một
thất bại cả về mặt tôn giáo nữa.
|
|
|
Mỹ
và cuộc đảo chánh 01/11/1963
Nguồn: JFK Library
|
Nó chỉ là một manh động của
một số lănh đạo Phật giáo mà vai tṛ chủ chốt là
Thích Trí Quang. Nó đă không đem lại, tự do, công
bằng cho Phật giáo và nhất là nó biến phong trào
Phật giáo trở thành những thế lực chính trị dưới
danh nghĩa tôn giáo có thể làm khuynh đảo xă hội
miền Nam.
Và kẻ duy nhất được
hưởng lợi không ai khác là người cộng sản như nhận
xét của Lê Duẩn trong Thư vào Nam,
“Để ḥng cải thiện thể chế chính trị ngày càng
tồi tệ, Mỹ đă vứt bỏ Diệm, Nhu. Nhưng Mỹ đă tính
nhầm. Sau khi truất phế Ngô Đ́nh Diệm, thế chính trị
của bọn bù nh́n chẳng những không tốt lên mà c̣n xấu
hơn nữa.”
(Trích Thư
Vào Nam, Lê Duẩn, trang 50.)
|