Cơ sở pháp lư xác lập
chủ quyền VN tại Hoàng Sa
(VietNamNet) - Cơ sở pháp lư quốc tế và các hành
động xác lập và thực thi chủ quyền rất cụ thể
của VN suốt từ đầu thế kỷ XVII là những bằng
chứng hiển nhiên, bất khả tranh nghị về chủ
quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Mọi sự
tranh giành chủ quyền với Việt Nam là hành động
trái phép với luật pháp quốc tế - Bài viết của
Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhă.
Phản đối TQ lập thành phố hành chính quản lư
Hoàng Sa
Cơ sở pháp lư quốc tế về sự thiết lập chủ quyền
lănh thổ tại các hải đảo
Trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến thế kỷ
XIX, các nước Hà Lan, Anh, Pháp cũng phát triển
dần trở thành cường quốc, bị đụng chạm quyền lợi,
không chịu chấp hành sắc lệnh của Giáo Hoàng
Alexandre VI kư ngày 4 tháng 5 năm 1493 xác định
nguyên tắc phân chia các vùng lănh thổ mới phát
hiện ngoài Châu Âu. Từ thực tế này, các nước đă
t́m ra nguyên tắc mới về thiết lập chủ quyền
trên những vùng lănh thổ mà họ phát hiện. Đó là
thuyết "quyền ưu tiên chiếm hữu" một vùng lănh
thổ thuộc về quốc gia nào đă phát hiện ra vùng
lănh thổ đó đầu tiên. Đó chính là thuyết "quyền
phát hiện".
Trên thực tế, việc phát hiện như trên chưa bao
giờ tự nó đem lại cho quốc gia phát hiện chủ
quyền lănh thổ v́ rất khó xác định chính xác thế
nào là phát hiện, xác nhận việc phát hiện và xác
định giá trị pháp lư của việc phát hiện ra một
vùng lănh thổ. V́ thế việc phát hiện đă mau
chóng được bổ sung bằng việc chiếm hữu trên danh
nghĩa, nghĩa là quốc gia phát hiện ra một vùng
lănh thổ phải để lại dấu vết trên vùng lănh thổ
mà họ phát hiện.
Một đảo lớn trong quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: TTO
Sau hội nghị Berlin về châu Phi năm 1885 của 13
nước Châu Âu và Hoa Kỳ và sau khoá họp của Viện
Pháp Luật Quốc Tế ở Lausanne ( Thụy Sĩ) năm
1888, nguyên tắc chiếm hữu thật sự trở thành
quan điểm chiếm ưu thế trên thế giới. Điều 3,
điều 34 và 35 của Định ước Berlin kư ngày 26
tháng 6 năm 1885 xác định nội dung của nguyên
tắc chiếm hữu thật sự và các điều kiện chủ yếu
để có việc chiếm hữu thật sự như sau:
- “Phải có sự thông báo về việc chiếm hữu cho
các nước kư định ước trên".
- "Phải duy tŕ trên những vùng lănh thổ mà nước
ấy chiếm hữu sự tồn tại của một quyền lực đủ để
khiến cho các quyền mà nước ấy đă giành, được
tôn trọng…”
Tuyên bố của Viện Pháp Luật Quốc Tế Lausanne năm
1888 đă nhấn mạnh “mọi sự chiếm hữu muốn tạo nên
một danh nghĩa sở hữu độc quyền … th́ phải là
thật sự tức là thực tế, không phải là danh nghĩa”.
Chính tuyên bố trên của Viện Pháp Luật Quốc Tế
Lausanne đă khiến cho nguyên tắc chiếm hữu thật
sự của định ước Berlin có giá trị phổ biến trong
luật pháp quốc tế chứ không chỉ có giá trị với
các nước kư định ước trên.
Nội dung chính của nguyên tắc chiếm hữu thật sự
là :
1.Việc xác lập chủ quyền lănh thổ phải do nhà
nước tiến hành. Tư nhân không có quyền thiết lập
chủ quyền lănh thổ v́ tư nhân không có tư cách
pháp nhân quốc tế, v́ quan hệ quốc tế là quan hệ
giữa các quốc gia.
2. Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hoà
b́nh trên một vùng lănh thổ thật sự là vô chủ (res
nullius) hoặc là đă được quốc gia làm chủ chủ
động từ bỏ (derelicto). Dùng vơ lực để chiếm một
vùng lănh thổ đă có chủ là một hành động phi
pháp.
3. Quốc gia chiếm hữu trên thực tế phải thực
hiện những hành động chủ quyền ở mức độ tối
thiểu phù hợp với các điều kiện tự nhiên và dân
cư trên vùng lănh thổ đó.
4. Việc thực hiện chủ quyền phải liên tục trên
vùng lănh thổ đó.
Ngày 10 tháng 9 năm 1919, công ước Saint Germain
đă được các cường quốc lúc bấy giờ kư tuyên bố
hủy bỏ định ước Berlin năm 1885 với lư do là
trên thế giới không c̣n lănh thổ vô chủ nữa và
như thế nguyên tắc chiếm hữu thật sự không c̣n
giá trị pháp lư nữa. Song do tính hợp lư của
nguyên tắc này, các luật gia trên thế giới vẫn
vận dụng nó khi phải giải quyết các vụ tranh
chấp chủ quyền trên các hải đảo. Như phán quyết
của toà án trọng tài thường trực quốc tế La Haye
tháng 4 năm 1928 về vụ tranh chấp đảo Palmas
giữa Mỹ và Hà Lan, phán quyết của toà án quốc tế
của Liên Hợp Quốc tháng 11 năm 1953 về vụ tranh
chấp các đảo Minquiers và Écrehous giữa Anh và
Pháp.
Những thay đổi trong pháp luật quốc tế nửa đầu
thế kỷ XX đă làm thay đổi phương pháp thủ đắc
chủ quyền lănh thổ trên thế giới. Sau chiến
tranh thế giới thứ 2, Liên Hợp Quốc được thành
lập tiếp theo Hội Quốc Liên. Từ các cuộc chiến
tranh xâm lược, Hiến Chương Liên Hợp Quốc đưa ra
nguyên tắc (điều 2 khoản 14) có giá trị như một
nguyên tắc pháp lư áp dụng cho tất cả các quốc
gia.
Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trên đă được phát
triển và tăng cường trong Nghị Quyết 26 – 25 năm
1970: “Lănh thổ của một quốc gia không thể là
đối tượng của một cuộc chiếm đóng quân sự do sử
dụng vũ lực trái với “các quy định của Hiến
Chương”. Lănh thổ của một quốc gia không thể là
đối tượng của một sự chiếm hữu của một quốc gia
khác sau khi dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực. Bất
kỳ sự thụ đắc lănh thổ nào đạt được bằng đe dọa
hay sử dụng vũ lực sẽ không được thừa nhận là
hợp pháp”.
Nghị quyết trên cũng qui định: “Các quốc gia có
bổn phận không dùng đe dọa hay sử dụng vũ lực để
vi phạm các biên giới quốc tế hiện có của một
quốc gia khác hay như biện pháp giải quyết các
tranh chấp quốc tế , kể cả các tranh chấp về
lănh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên
giới của các quốc gia.”
Năm 1982, Công ước về luật biển Liên Hợp Quốc
gọi là “United Nations Convention on Law of Sea"
,viết tắt là UNCLOS Convention công bố ngày
10-2-1982 tại Montego Bay ở Jamaica đă được 159
quốc gia kư nhận. Sau khi có đủ 60 quốc gia
duyệt y (ratification), kể từ ngày 16-11-1994
thoả ước UNCLOS hay LOS Convention trở thành
luật quốc tế đối với các quốc gia phê chuẩn và
được mang ra, thi hành, đă xác định về chủ quyền
trên biển của mỗi quốc gia …
Như thế trước khi bị các nước ngoài xâm phạm chủ
quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
tức đầu thế kỷ XX trở về thế kỷ XVII, theo pháp
lư quốc tế theo kiểu Phương Tây lúc bây giờ, sự
xác lập chủ quyền Việt Nam một cách thật sự,
liên tục, hoà b́nh là cơ sở pháp lư quốc tế
đương thời. Đến khi chủ quyền của Việt Nam bị
xâm phạm, vào thời đểm 1909, pháp lư quốc tế có
giá trị phổ biến là Tuyên bố của Viện Pháp Luật
Quốc Tế Lausanne năm 1888.
Sau đó Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Luật Biển
1982 cũng là cơ sở pháp lư quốc tế mà các thành
viên kư kết bao gồm các nước đang vi phạm chủ
quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa là Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei
đều phải tôn trọng.
Tính pháp lư quốc tế của sự xác lập chủ quyền
của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa
Vào đầu thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, năm 1909,
Việt Nam đă chiếm hữu thật sự, hoà b́nh và thực
thi liên tục theo đúng nguyên tắc pháp lư quốc
tế lúc bấy giờ với những chứng cứ sau đây:
Một là với tính cách nhà nước, đội Hoàng Sa, một
tổ chức bán quân sự đă được giao nhiệm vụ, riêng
một ḿnh kiểm soát và khai thác định kỳ, liên
tục và hoà b́nh hải sản quư cùng các sản vật kể
cả súng ống của các tàu đắm tại các đảo Hoàng Sa
suốt thời Đại Việt, trong thời các chúa Nguyễn
và thời Tây Sơn, tức từ đầu thế kỷ XVII đến năm
1801 và sau đó là buổi đầu triều Nguyễn từ 1802
– đến trước 1815. Từ năm 1816, đội Hoàng Sa phải
phối hợp với thủy quân. Hàng năm, đội Hoàng Sa
hoạt động trong 6 tháng từ tháng 3 đến tháng 8
âm lịch (tháng 4 đến tháng 9 dương lịch) để phù
hợp với điều kiện thời tiết ở vùng biển của quần
đảo Hoàng Sa.
Hai là suốt thời nhà Nguyễn, bắt đầu từ 1816,
thủy quân được giao trọng trách liên tục kiểm
soát, bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa.
Ba là về mặt quản lư hành chánh liên tục suốt
trong 4 thế kỷ từ thế kỷ XVII đến năm 1974 (khi
Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm), Hoàng Sa
được các chính quyền ở Việt Nam để thể hiện
quyền lực tối thiểu của ḿnh, đặt dưới sự quản
lư hành chánh của Quảng Ngăi (khi là phủ hoặc là
trấn hay tỉnh qua từng thời kỳ lịch sử) hoặc của
tỉnh Thừa Thiên (thời Pháp thuộc) hoặc của tỉnh
Quảng Nam - Đà Nẵng (thời chia cắt Nam Bắc) rồi
đến thành phố Đà Nẵng (thời thống nhất đất nước).
Việc xác định sự quản hạt này hoặc đựợc ghi
trong các sách địa lư của nhà nước biên soạn như
bộ Hoàng Việt Địa Dư Chí hoặc Đại Nam Nhất Thống
Chí dưới triều Nguyễn, hoặc do chính hoàng đế
hay triều đ́nh (Bộ Công) như thời vua Minh Mạng
khẳng định, hoặc bằng các dụ, sắc lệnh, quyết
định của chính quyền ở Việt Nam như dụ của Bảo
Đại, triều đ́nh Huế, Toàn Quyền Đông Dương ở
thời Pháp thuộc, hoặc tổng thống, tổng trưởng
trong thời kỳ Việt Nam bị chia cắt, hoặc quyết
định, nghị quyết của nhà nước, quốc hội thời độc
lập thống nhất. Điều này khác với Trung Quốc,
chỉ xác định sự quản lư hành chánh sau năm 1909
tức vào năm 1921 và rồi vào năm 1947… có nghĩa
là sau Việt Nam hơn 3 thế kỷ. C̣n tất cả chỉ là
suy diễn không có bằng chứng cụ thể rơ ràng.
Chính quyền ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử,
ngay cả thời Pháp thuộc, chưa bao giờ từ bỏ chủ
quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, nên ngay
cả khi bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép sau
chiến tranh thế giới thứ 2 hay năm 1974, quần
đảo Hoàng Sa vẫn được tỉnh Quảng Nam và từ năm
1997 đến nay là thành phố Đà Nẵng quản lư.
Bốn là trước thời kỳ bị xâm phạm, bất cứ dưới
thời đại nào, nhà nước ở Việt Nam cũng có những
hành động tiếp tục khẳng định và thực thi chủ
quyền hàng năm như đo đạc thủy tŕnh, để vẽ bản
đồ do đội Hoàng Sa cuối thời chúa Nguyễn hay do
thủy quân từ năm 1816 dưới triều Nguyễn (bộ Đại
Nam Thực Lục Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính
Biên hoặc Đại Nam Hội Điển Sự Lệ của Nội Các,
hoặc Châu Bản triều Nguyễn đă ghi rất rơ, đă
được tŕnh bày trong phần tài liệu). Sau này, từ
đầu thế kỷ XX cho đến năm 1974, Việt Nam cũng
tiếp tục tổ chức các đoàn thám sát, đo đạc, vẽ
bản đồ.
Năm là trước thời kỳ bị xâm phạm, dưới triều
Nguyễn, nhất là từ năm 1836 trở thành lệ, hàng
năm đều luôn luôn tổ chức xây dựng bia chủ quyền
từng ḥn đảo. Trong thời bị xâm phạm cũng thế,
các chính quyền ở Việt Nam luôn tiếp tục cho
dựng bia chủ quyền thay thế bia bị hư hỏng.
Sáu là trước thời kỳ bị xâm phạm, các triều đại
Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng của triều
Nguyễn đă cho dựng miếu thờ làm bằng nhà đá (đá
san hô), đào giếng mà năm 1909 các đoàn khảo sát
đầu tiên của Trung Quốc ở Hoàng Sa đă trông thấy
và khẳng định không biết có từ thời nào. Riêng
tại đảo Phú Lâm, tài liệu Trung Quốc [ ghi có
miếu ghi rơ Hoàng Sa Tự của Việt Nam. Sau khi có
sự xâm phạm, chính quyền ở Việt Nam cũng tiếp
tục cho xây miếu và nhà thờ.
Bảy là trước thời kỳ bị xâm phạm, dưới triều
Nguyễn nhất là thời vua Minh Mạng đă cho trồng
cây tại các đảo để cho thuyền bè ở đàng xa nhận
thấy, tránh bị nạn, và các nhà nghiên cứu thực
vật như La Fontaine cũng thừa nhận các thực vật
cây cối ở Hoàng Sa phần lớn có nguồn gốc ở Miền
Trung Việt Nam.
Tám là trước thời kỳ bị xâm phạm, dưới triều Gia
Long như tài liệu phương Tây của Gutzlaff viết
trong The Journal of The Geographical Society of
London, vol 19, 1849, trang 97, đă cho biết Việt
Nam đă thiết lập trại binh nhỏ và một điểm thu
thuế. Đến thời kỳ bị xâm phạm từ năm 1909, các
chính quyền Việt Nam lại là chính quyền sớm nhất
đă tổ chức các trại lính đồn trú ở đảo Hoàng Sa
(Patlle). Trong khi Trung Quốc chỉ cho quân
chiếm đóng một thời gian ngắn sau chiến tranh
thế giới lần 2 rồi rút đi (năm 1956, Trung Quốc
chiếm lại đảo Phú Lâm (Ile Boisée). Đến năm
1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm trái phép các
đảo c̣n lại trong các trận đánh trên đảo và ở
biển với hải quân Việt Nam Cộng Hoà, kết thúc
vào ngày 20 –1-1974).
Chín là chính quyền ở Việt Nam đă cho xây trạm
khí tượng đầu tiên tại đảo Hoàng Sa (Pattle) vào
năm 1938 hoạt động trong thời gian dài cho đến
khi Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực năm 1974.
Mười là trước thời kỳ bị xâm phạm tức năm 1909,
chính các hoàng đế Việt Nam như vua Minh Mạng và
triều đ́nh, cụ thể là Bộ Công đă lên tiếng khẳng
định Hoàng Sa là nơi hiểm yếu trong vùng biển
của Việt Nam, nằm trong cương vực của Quảng Ngăi.
Mười một là trước khi bị xâm phạm, chưa có một
hải đảo nào được nhiều tài liệu chính thức của
nhà nước, từ chính sử địa lư của Quốc Sử Quán
Triều Nguyễn như Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, Đại
Nam Thực Lục Chính Biên, hoặc địa dư như Hoàng
Việt Dư Địa Chí, Đại Nam Nhất Thống Chí, hoặc
sách hội điển, một loại pháp chế ghi những điển
chương pháp chế của triều đ́nh như Khâm Định Đại
Nam Hội Điển Sự Lệ. Cũng chưa có một hải đảo nào
tại Việt Nam lại được những nhà sử học lớn của
nước Việt Nam đề cập đến như Lê Quí Đôn trong
Phủ Biên Tạp Lục (1776), Phan Huy Chú (1821)
trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí , Dư Địa
Chí, hay Nguyễn Thông trong Việt Sử Cương Giám
Khảo Lược. Đặc biệt việc xác nhận chủ quyền của
Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa lại c̣n do sách
của chính người Trung Hoa viết như Hải Ngoại Kư
Sự của Thích Đại Sán viết năm 1696. Đó là chưa
kể nhiều tác giả tây Phương như là Le Poivre
(1749), J Chaigneau (1816-1819), Taberd (1833),
Gutzlaff (1849)… cũng đă khẳng định rơ ràng
Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam!
Mười hai là bản đồ An Nam Đại Quốc Họa Đồ Của
Giám mục Taberd trong cuốn Tự Điển Việt – La
Tinh, nhan đề Latino – Anamiticum xuất bản năm
1838 đă ghi rơ : Paracel Seu Cát Vàng ở Biển
Đông. Trong khi bản đồ "An Nam" này chỉ vẽ có
Paracel Seu Cát Vàng, lại không có vẽ Hải Nam
của Trung Quốc trong biển Đông. Rơ ràng bản đồ
An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ đă minh chứng Cát Vàng
tức Hoàng Sa chính là Paracel nằm trong vùng
biển của Việt Nam.
Như thế với chức năng kiểm soát sự khai thác các
sản vật ở Biển Đông và những hành động cụ thể
trực tiếp khai thác các sản vật của Đội Hoàng
Sa, một tổ chức dân binh liên tục gần hai thế kỷ
suốt từ đầu thế kỷ XVII cho đến năm 1816 cùng
những hành động xác lập và thực thi chủ quyền
rất cụ thể như nêu cột mốc, dựng bia, xây miếu,
trồng cây, đo đạc thủy tŕnh vẽ bản đồ của thủy
quân Việt Nam từ năm 1816 dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của vua và triều đ́nh cũng như những lời
tuyên bố của vua , triều đ́nh nhà Nguyễn và sự
quản hạt hành chánh vào Quảng Ngăi từ đầu thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XX là những bằng chứng hiển
nhiên, bất khả tranh nghị về chủ quyền của Việt
Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Mọi sự tranh giành
chủ quyền với Việt Nam là hành động trái với
luật pháp quốc tế.
Nguyễn Nhă (Tiến sĩ sử học)
|
|
|
|