Chiến thắng bỏ lỡ  2

Minh Vơ

 

Chương 5: Dấn thân nhập cuộc: 1961

Đầu chương tác giả nói về sự ngưỡng mộ mà Tổng Thống Kennedy, khi c̣n là nghị sĩ đă dành cho ông Diệm. Về những nhân vật có ảnh hưởng lớn với vị tổng thống mới như McNamara, McGeorge Bundy, Dean Rusk.

Rồi ông trưng dẫn câu nói lịch sử của Kennedy trong ngày nhậm chức:

"Mọi dân tộc nên biết, dù họ muốn điều tốt hay điều xấu cho chúng tôi, rằng chúng tôi sẽ trả bất cứ giá nào, mang bất cứ gánh nặng nào, chịu bất cứ cực khổ nào, ủng hộ bất cử thân hữu nào, chống đối bất cứ kẻ thù nào để bảo đảm sự tồn tại và thắng lợi của tự do."

Trước sự hứa hẹn triệt để ủng hộ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm của Tổng Thống, Đại sứ Durbrow đành bỏ đ̣i hỏi nới rộng dân chủ tự do, đồng thời cũng không c̣n phản đối chuyện trang bị thêm cho 20.000 lính.

Đại tá Lansdale, trước kia bị đại sứ Durbrow ngăn cản, nay đă có thể thăm viếng Việt Nam và đề nghị, "việc đầu tiên là phải thay thề vị đại sứ mất thiện cảm của ông Diệm này". Chỉ hai ngày sau khi tiếp Lansdale, Tổng Thống Kennedy chấp thuận ngân khỏan để tăng thêm 20.000 quân cho Việt Nam Cộng Hoà.

Tác giả nh́n nhận miền Nam trong hai năm 1960 và 1961 đă thất bại trong việc chống du kích và nổi dậy của Cộng quân. Ông trích lời tướng MaGarr ước đoán Diệm chỉ kiểm soát được 40% nông thôn. Nhưng phía VC cũng không lạc quan ǵ. V́ theo Lê Duẫn lực lượng quân sự của Diệm vẫn c̣n nguyên vẹn.

Vấn đề mà Tổng Thống Kennedy quan tâm nhất, tuy vậy, không phải Việt Nam mà là Ai Lao. Tại đây Việt Cộng đă có 12.000 "quân viễn chinh".

Nhưng thay v́ theo lời khuyên của nguyên Tổng Thống Eisenhower đem quân vào Ai Lao, "Tổng Thống Kennedy đă quyết định không dùng vơ lực và chỉ phô trương lực lượng. (...)" (trang 127)

Rồi sau đó giao cho Averell Harriman, người cực lực chống đối việc can thiệp trực tếp vào Ai Lao (Laos), trách nhiệm thương thuyết với đối phương để đạt một thỏa hiệp về trung lập hoá Ai Lao.

"Ngày 29/04/1961 tổng Thống Kennedy chấp thuận đề nghị tăng số cố vấn tại Nam Việt Nam từ 685 lên 785. Đây là lần đầu tăng số cố vấn Mỹ kể từ năm 1956. Dân vệ được tăng từ 32,000 lên 68,000...và Lục Quân tăng từ 170,000 lên 200,000."

"Tổng thống cũng theo đề nghị của Lansdale là tân đại sứ Frederick Ernest 'Fritz' Nolting nên cải thiện mối giao hảo với Tổng Thống Diệm...và đừng áp lực ông này phải loại bỏ ông Nhu..."


Về các cuộc đụng độ giữa quân chính phủ và Cộng quân, tác giả ghi lại những trận đánh ngày đầu tháng 9 và ngày 17 tháng 9, trong đó tỉnh trưởng Phước Vĩnh (?) Nguyễn Minh Mẫn bị giết phân thân, và vợ cũng bị bắn. VC sớm rút lui mang theo một trăm súng, giải thoát và dẫn đi 270 tù nhân CS.

Đầu tháng 3 đặc phái viên của Tổng Thống là Tướng Maxwell Taylor đến quan sát tại chỗ và báo cáo: "Hồ sơ cho thấy t́nh h́nh chính trị tại miền Nam xấu đi từ 1959 là do chính phủ không có khả năng bảo vệ dân và điều khiển chiến cuôc một cách hữu hiêu." Nhưng viễn cảnh không đến nỗi ảm đạm. Taylor viết: "Mặc dầu có khuyết điểm, Diệm vẫn có khả năng phi thường, kiên cường và dũng khí." Ông khuyên không nên thay thế Diệm, v́ sẽ dẫn đến hỗn loạn.

Cuối năm 1961 hàng viện trợ đổ tới Việt Nam càng ngày càng nhiều. Số người Mỹ cũng gia tăng lên tới 2,600. Kenedy cử tướng Paul Harkins càm đầu phái bộ quân sự Mỹ tại Việt Nam. Tướng Harkins cũng như tướng McGarr luôn có lập trường ủng hộ và bênh vực Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.

Cuối chương 5, tác giả viết:

"Tháng cuối cùng của năm 1961 đánh dấu bước đầu của khúc ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam....Chiến lược của Kennedy nhằm cung cấp cố vấn và viện trợ cho Nam Việt, chứ không gửi quân tác chiến sang là căn cứ vào sự tin tưởng vào khả năng chiến đấu của Nam Việt Nam...."
 

Chương 6: Sự trẻ trung hoá, từ tháng giêng đến tháng 6 năm 1962.

Kennedy tăng viện, gửi thêm cố vấn vào Việt Nam. Nhưng lại muốn giấu. Kư giả bị cấm bay trên trực thăng trong những phi vụ hành quân. Giảm bớt sự phổ biến tin chiến sự. Kư giả quay ra săn tin để đả kích Diệm. Cả Diệm lẫn hai người ủng hộ ông là đại sứ Nolting và đại tướng Harkins đều kém về thu phục báo giới.

"Không thèm lấy tin từ các giới chức Mỹ và chính phủ Diệm, báo giới Mỹ ở Saigon đi lượm tin từ những trí thức người Việt và nhân viên Mỹ không làm việc ở toà đại sứ hay cạnh bộ chỉ huy cao cấp cố vấn quân sự Mỹ. Các phóng viên thường không để ư là 2 nguồn tin này thường thiếu sót, sai lạc. Roger Hillsman thuộc bộ Ngoại Giao đă nhận xét đúng trong thư hồi tháng 2 rằng, một số nhân viên Mỹ đă ở Việt Nam quá lâu và từng thất vọng và ác cảm với chính quyền Việt Nam, hoặc bị ảnh hưởng không tốt của những người có quan điểm bất đồng chính kiến với chính quyền. Những phần tử bất măn lâu năm đó mớm cho kư giả Mỹ quan điểm chủ bại. Họ cũng khuyến khích những kẻ bất đồng chính kiến trong số những trí thức Việt Nam từng chịu sự giáo dục của Pháp lúc ấy thường tập trung ở Saigon."

Sau vụ dinh Độc Lập bị oanh kích và con gái ông bà Nhu thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, báo chí Mỹ làm to chuyện, cho rằng nhân dân oán ghét chế độ, ông Diệm đă cứng rắn hơn với kư giả ngoại quốc. Ông cho lệnh t́m cách trục xuất Homer Bigart của Nữu Ước Thời Báo (The New York Times) và Francois Sully của Tuần Tin Tức (Newsweek)

Về mặt quân sự, hai tháng đầu năm 1962, không lấy làm hứa hẹn cho Saigon. Vẫn những cuộc hành quân lớn không kết quả.

"Trong khi đó Cộng quân càng thêm mạnh. T́nh báo Mỹ tháng 2 cho biết, VC đă tăng quân số từ 20,000 lên 25,000 trong tháng 12 năm trước."

Nhưng đến mùa xuân th́ t́nh h́nh khả quan hơn. Một trong những chiến thắng lớn nhất của chính quyền Saigon trong mùa xuân là trận đánh ngày 6 tháng 4 ở Trà Bồng. Hăng AP loan VC thua chạy để lại 45 xác, và có thể có nhiều xác đă được mang theo. Phía Saigon có 16 chết và 33 bị thương.

Đến giữa năm 1962 số cố vấn quân sự Mỹ đă tăng vọt, từ 2.600 lên đến 11.500.
Về hiệu quả của sự cố vấn của Mỹ, tác giả phân biệt:

"Cố vấn về chính trị của người Mỹ thường vô bổ, v́ họ thiếu hiểu biết về văn hoá Việt Nam. Trong khi đó cố vấn về quân sự trái lại đă giúp ích nhiều cho sự tiến bộ trong công cuộc điều binh bố trận."

Ấp chiến lược
Nguồn: history.navy. mil


Tác giả đă giành 3 trang để nói về Ấp Chiến Lược mà ông cho rằng của ông Nhu, chứ không phải của Sir Thompson như nhiều người nghĩ. Ông bảo đây là một cuộc cách mạng hoá nỗ lực chiến tranh.

"Khi giải thích về chương tŕnh ACL, Diệm và Nhu thường năng nói đến tính dân chủ của nó, nhưng là thứ dân chủ theo kiểu Việt Nam, chứ không phải dân chủ theo kiểu Tây Phương."

Người Mỹ có vẻ không hài ḷng v́ chương tŕnh này được thực hiện sau lưng họ, và lại dùng cố vấn chính là người Anh (Sir Thompson) chứ không phải là người Mỹ (Rufus Phillips).

Nhưng dầu sao những tiến bộ về hoạt động quân sự, kèm theo một số cải tổ trong guồng máy cai trị khiến người Mỹ không c̣n muốn ép Tổng Thống Diệm phải mở rộng chính phủ, đưa thêm người của đối lập vào nữa.

Phía Hà Nội thấy Mỹ có vẻ dấn thân và chế độ Saigon xem ra ổn vững nên ngỏ ư muốn thương thảo với cả Diệm lẫn Mỹ, sẵn sàng chấp nhận một miền Nam Việt Nam trung lập với một chính phủ liên hiệp gồm mọi nhóm chính trị tôn giáo và các tổ chức xă hội.

Trong khi đó Hồ Chí Minh được Liên Xô cho 3.000 súng và Trung Cộng cung cấp 90.000 vũ khí đủ để trang bị cho 230 tiểu đoàn mới.

Phần cuối chương 6, tác giả phân tích t́nh h́nh Ai Lao và hiệp định Giơ Neo về Ai Lao.

Tháng 4, Tổng Thống Kennedy theo đề nghị của Harriman cắt viện trợ cho chính phủ của hoàng thân Phoumi ḥng tiến tới một chính phủ liên hiệp 3 phe. Tổng Thống Diệm viện dẫn bài học lịch sử về Cộng sản Hy Lạp chỉ bị đánh bại sau khi Ti Tô không cho chúng lợi dụng lănh thổ Nam Tư, để khẩn khỏan yêu cầu Hoa Kỳ ngăn cản không cho Việt Cộng lợi dụng lănh thổ Ai Lao để xâm nhập miền Nam Việt Nam. Nhưng không được.

Kennedy quá tin Harriman, nên đă không nghe lời những cố vấn phe "diều hâu", như McNamara, McCone. Ngày 13 tháng 5, nguyên tổng thống Eisenhower đă nói với hai ông này rằng, "Nếu mất Ai Lao th́ cuối cùng Nam Việt Nam và Thái Lan sẽ mất". (...) V́ vậy phải giữ Ai Lao bằng mọi giá. Ít nhất cũng phải giữ được một nửa. Nếu cần đến bom nguyên tử chiến thuật để giữ Ai Lao cũng không từ.

Nhưng Harriman nhất định cho rằng Liên Xô sẽ bảo đảm việc Việt Cộng rút hết khỏi Ai Lao. Quả thực Khrutshchev có gửi cho Tổng Thống Kennedy một lá thư hứa Cộng quân sẽ không có hành động quân sự nào rộng lớn ở Ai Lao. Nhưng thực tế sau này cho thấy đấy chỉ là lời hứa hăo.

V́ đại sứ Nolting tỏ ư không tán thành hiệp ước trung lập hoá Ai Lao, nên Harriman lại một lần nữa vận động để đưa Nolting ra khỏi Nam Việt Nam. Nhưng không thành công.

"Tuy nhiên sự chống đối của Nolting không phải là vấn đề quan trọng đối với Harriman như sự chống đối của Diệm, v́ Diệm là lănh tụ tối cao của Đồng Minh có chủ quyền."

Nhưng rồi mọi sự cũng xong. Với lời hứa ngọt ngào của Tổng Thống Kennedy, Tổng Thống Diệm cuối cùng đă để cho ngoại trưởng VNCH kư hiệp ước đó một cách bất đắc dĩ, mà trong ḷng thi lo âu. Với hiệp ước này, Ai Lao có chính phủ liên hiệp gồm 3 phe: Phe Trung Lập của hoàng thân Souvanna, phe hữu của hoàng thân Phoumi và phe cộng của hoàng thân Souphanouvong, em hoàng thân Souvanna..

Tác giả kết thúc chương này bằng một nhận định lạc quan về t́nh h́nh Nam Việt Nam, mặc dù có sự xâm nhập gia tăng của Cộng quân từ Ai Lao. "Một sự tiến bộ đáng ngạc nhiên trong quân đội. Chương tŕnh Ấp Chiến Lựoc trở thành cốt lơi của công cuộc b́nh định."


Chương 7: Tấn công: từ tháng 7 đến tháng 12- 1962.

Mở đầu là việc bổ nhiệm tướng Paul Harkins làm trưởng đoàn cố vấn và những nỗ lực của ông nhằm ảnh hưởng đến những quyết định cần thiết của Tổng Thống Diệm liên quan đến việc cải tiến các đơn vị tác chiến. Harkins rất năng động và thường đi xem xét hoạt động của các cố vấn tại hiện trường, trái với lời cáo buộc của một số kư giả Mỹ là ông chỉ ngồi ở văn pḥng.

Tác giả trưng dẫn chiến thắng của sư đoàn 7 tại Đồng Tháp Mười ngày 20 tháng 7 làm ví dụ về kết quả của những khuyến cáo của tướng Harkins về việc chỉ huy và tinh thần tấn công. Tướng Harkins đă nói với Tổng Thống Diệm: "Chỉ có một cách để chiến thắng là tấn công, tấn công, và tấn công." (Tr.168)

Phó đại sứ William Truehart lớn tiếng ca ngợi những tiến bộ đạt được là "đáng khích lệ kinh khủng". Nhưng báo giới Mỹ th́ không hào hứng như vậy. Sau khi Homer Bigart và Francois Sully hết hạn hộ chiếu, phải rời Việt Nam, chỉ c̣n một số nhà báo rất trẻ, trong số phải kể đến Neil Sheehan, 25 tuổi, David Halberstam, 28 và Malcolm Browne, 32. Theo tác giả, những nhà báo trẻ này đ̣i rằng họ phải được biết rơ mọi sự thực về chiến tranh, những thắng lợi cũng như những thất bại và khuyết điểm, lỗi lầm của chính phủ và quân đội. V́ vậy họ luôn chỉ trích các giới chức Mỹ và Việt Nam đă không cho họ được toàn quyền tiếp cận các nguồn tin. Tuy nhiên tác giả không kết tội họ là cố t́nh làm lợi cho địch. Ông viết:

"Although they regularly denounce American and south Vietnamese leaders and some of their policies, they supported the basic American goal of defeating the Viet Cộng in order to preserve a non-Communist South Vietnam and save the Southeast Asian dominoes." (Tuy họ thường tố cáo các nhà lănh đạo và một số chính sách của Mỹ và Nam Việt Nam, nhưng họ vẫn ủng hộ mục tiêu cơ bản của người Mỹ là đánh thắng Việt Cộng để duy tŕ một miền Nam Việt Nam không cộng sản và cứu các con cờ đô-mi-nô Đông Nam Á."

Trong mùa hè 1962 những phóng viên mới để quá nhiều thời giờ cho một ḿnh sư đoàn 7. Tuy Halberstam và Sheehan và hầu hết các phóng viên khác phần nhiều lấy tin từ những nguồn không chính thức thuộc loại "Radio Catinat", nhưng quả thực họ có đến thăm sư đoàn 7 và tháp tùng các cuộc hành quân khá đều. Lư do, theo tác giả, là v́ từ Saigon đến bộ tư lệnh sư đoàn 7 ở Mỹ Tho chỉ có 40 dặm đường khá tốt, và nhất là v́ ở đó có sự hiện diện của Trung Tá John Paul Vann rất thích cho tin cho các phóng viên để được nổi tiếng.
 

Cố vấn John Paul Vann và trung uư phi công Ronald E. Doughtie ngày 06/06/1972 tại Kontum (3 ngày sau phi cơ rơi, cả hai tử nạn)
Nguồn: virtualwall. org


Tác giả đưa ra nhiều điều không tốt về ông này, cũng như về bà mẹ của ông ta. Ít ai biết bà từng có con hoang, làm đĩ, và nghiện rượu. Nhiều chỗ, nhất là chương về trận Ấp Bắc, tác giả đă đưa ra nhiều tài liệu để chứng minh Vann nói láo, để chạy tội và đổ lỗi cho sĩ quan Việt Nam không muốn tiếp cứu người Mỹ bị địch bao vây...Chắc là kư giả Neil Seehan "sùng" lắm v́ ông ta đă ca tụng Vann hết lời trong tác phẩm lớn A Bright shining Lie của ông ta. (Xin xem chương 20, Ngô Đ́nh Diệm, Lời Khen Tiếng Chê của Minh Vơ). Vann là nguồn tin chính của Sheehan đă nói láo, th́ các tin mà Sheehan đưa ra về những ưu điểm của Cộng quân và những sai trái của quân Quốc Gia c̣n có giá trị bao nhiêu?

Trang cuối tác giả nhắc đến hiệp ước trung lập hoá Ai Lao, công tŕnh của Harriman đă đưa đến việc Cộng quân tha hồ dùng đường ṃn Hồ Chí Minh để xâm nhập miền Nam, v́ vậy nhiều người lấy tên Harriman đặt cho đường ṃn này: Xa Lộ Tưởng Niệm Averell Harriman.

Mặc dầu gặp khó khăn bội phần do cái "xa lộ Harriman" này gây ra, chính quyền Diệm vẫn thu lượm được nhiều thắng lợi vào hạ bán niên 1962.

Tác giả kết thúc chưong 7 bằng lời nhận xét của kư giả Wilfred Burchett, người Úc thân Cộng, đă từng sống với VC vào thời gian đó như sau:
"Về lănh thổ cũng như về dân số, Diệm đă lấy lại được một phần đáng kể. Quân (của Diệm) đă ghi đựợc một số thắng lợi và chủ động về chiến lược và chiến thuật. ... Năm 1962 là năm của Diệm"

Chương 8: Trận Ấp Bắc; Tháng Giêng năm 1963.
 

Trực thăng UH-1 Hueys bị bắn rơi tại Ấp Bắc (02/01/1963)
Nguồn: stibbens.com

Tác giả để gần 20 trang để viết về trận đánh cấp tiểu đoàn này, trong khi về những trận đánh khác trong năm 1962, ông chỉ nói qua mấy hàng. Thứ nhất v́ đây là trận phản công đầu tiên của Việt Cộng sau một loạt thất bại trong 6 tháng cuối năm 1962, để cố dành lại thế chủ động. Nhưng VC đă thất bại, để lại trên một trăm xác chết. (3)

Thứ hai, v́ trận này đă được số đông báo giới và sử gia Mỹ sau này nêu lên để chứng minh sự "yếu kém và ươn hèn của chính quyền miền Nam không muốn chống cộng, chỉ muốn duy tŕ lực lượng hầu bảo vệ nhà Ngô..."

Trong trận này quân của sư đoàn 7 bị thiệt hại nặng, 80 chết 109 bị thương. Lực lượng Mỹ yểm trợ có 3 người chết, 6 bị thương và nặng nhất là có tới 5 máy bay trực thăng bị hư hại. Dư luận phe chính thống coi đây là thất bại lớn chứng tỏ chính quyền đang trên đà suy sụp. Nhưng tác giả đă thuật lại đầy đủ chi tiết trân đánh, địa h́nh địa vật, và quân số hai bên, cũng như diễn tiến trận đánh, để đi đến nhận xét trái ngược. Theo tác giả th́, tướng Harkins và Đô Đốc Felt đều nhận định, đây là một chiến thắng của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Riêng tác giả th́ phân biệt, về mặt chiến thuật, sư đoàn 7 thất bại, v́ không tiêu diệt được đối phương như đă hoach định. Nhưng về mặt chiến luợc th́ thắng v́ không để Cộng quân dành lại được thế chủ động.

Tác giả cũng nêu bằng chứng để quy trách sự tổn thất – không chỉ về phía Mỹ – cho Trung Tá Vann. Hơn nữa c̣n kết tội ông nói dối. Những dẫn chứng chi tiết được nêu lên trong 62 chú thích có thể tạo nên một thách thức nghiêm trọng đối với sự đánh giá của "phe chính thống".

Chương 9: Tổng Thống Diệm trước thử thách: Từ tháng 2 đến tháng 7

T́nh h́nh an ninh và công cuộc b́nh định tiếp tục tiến triển sau trận Ấp Bắc nhờ dân chúng tin tưởng vào chính quyền và cung cấp nhiều tin tức về hoạt động của Cộng quân. Từ tháng 2 đến tháng 7 Cộng quân chỉ có thể chủ động mở tấn công cấp tiểu đoàn 7 lần, so với 35 lần trong 6 tháng đầu năm 1962. Một tài liệu lịch sử của quân khu 5 VC sau này đă ghi: "Chính quyền Diệm đă lấy lại tất cả những ǵ chúng ta chiếm được ."

Kết quả này theo tác giả là nhờ chương tŕnh Ấp Chiến Lược. Ông trưng dẫn các chuyên gia người Úc (đại tá Ted Serong) và Anh (Sir Thompson) nhận định đây là thành tựu to lớn, khiến chính phủ đang trên đà chiến thắng. Cố vấn Mỹ Rufus Phillips cũng lạc quan, tuy dè dặt hơn.

Cuối tháng bảy một toán đặc nhiệm thuộc sư đoàn 7 đă tấn công tiểu đoàn 514 VC khiến chúng phải bỏ chạy để lại 58 xác, và đem theo một số tương đương. Phía quân chính phủ có 18 tử thương.

Phần đông kư giả Mỹ không báo cáo những thành tựu đó. Trái lại có kẻ như Halberstam c̣n cho rằng t́nh h́nh an ninh tồi tệ, nguyên do là tại bà Nhu. Nhưng "Đại tướng Edward Rowny bảo Halberstam:

- "Này Dave, anh biết cuộc hành quân thắng lợi đấy chứ? Và dù nó thắng lợi hay không th́ cũng chẳng dính dáng ǵ đến bà Nhu cả. Thậm chí binh sĩ c̣n chẳng biết bà ta là ai nữa.

 

Halberstam đáp:

- 'Đại tướng ơi, độc giả không thích đọc bất cứ cái ǵ liên quan đến những cuộc hành quân bé nhỏ này đâu. Cái mà họ thích đọc là mụ "Long Nữ" (Dragon Lady) cơ." (tr. 210, chú thích 27)

Thử thách của ông Diệm chẳng những do báo chí Mỹ, do số lớn vũ khí và quân lính Bắc Việt xâm nhập qua đường ṃn Harriman. Mà c̣n do biến cố Phật Giáo.

Tài liệu VC cho biết mỗi tháng Bắc Việt chuyển vào Nam 1500 lính để tăng cường cho số quân chỉ vào khỏang 23.000. Đây là một tỷ lệ vô cùng lớn lao. Nhưng số quân VC đào ngũ, hoặc ra đầu thú với chính quyền trong chiến dịch chiêu hồi cũng rất lớn. V́ vậy chính quyền vẫn giữ được thế chủ động.

Về biến cố Phật Giáo, tác giả đưa nhiều bằng chứng để đi đến kết luận giống như Tổng Thống Nixon hay cựu hoàng Bảo Đại đă khẳng định trong No More Vietnams hay Le Dragon D'Annam: Vấn đề không phải kỳ thị tôn giáo, mà là chính trị. Tác giả đă để nhiều trang bàn kỹ về nguồn gốc sự khủng hoảng, và vai tṛ của Thượng Toạ Thích Trí Quang, mà ông bảo là người đă áp dụng những phương pháp đấu tranh giống CS, hoàn toàn trái ngược với nếp sống và tác phong của một tu sĩ Phật Giáo. Ông trưng dẫn bằng chứng về việc Tổng Thống Diệm đă có thiện chí thương lượng, hoà giải, nhưng Thích Trí Quang luôn luôn chỉ muốn đánh đổ cho bằng được chính phủ. Tác giả cũng nhắc lại chuyện dĩ văng, chính ông Hồ đă từng khoác áo nhà sư trong thời gian c̣n đấu tranh trong bí mật...

Tiếc rằng báo chí Mỹ đă triệt để ủng hộ phong trào đấu tranh của Thích Trí Quang, lên án chế độ. Họ lư luận rằng Phật Giáo chiếm tới 70 hay 80 phần trăm dân, nên đại diện toàn dân và như vậy ông Diệm đă bị toàn dân lên án, không thể nào tồn tại...Tác giả đă bác bỏ hoàn toàn tỷ lệ phần trăm tưởng tượng này, bằng những thống kê chính xác.

Tác giả cũng nói đến vai tṛ của Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo trong vấn đề ảnh hưởng đến dư luận báo chí Mỹ. Các nhà báo trẻ như Neil Sheehan và David Halberstan thường xuyên tiếp xúc với những nguồn t́n sẵn ác cảm với chính quyền. V́ thế phần đông dư luận Mỹ và thế giới cũng lên án theo.

Cuối chương tác giả viết:

"Trong khi Truehart, Hillsman, Halberstam và những người Mỹ khác bao vây Diệm với những yêu sách sai lầm về hoà giải, họ đă ngỏanh mặt làm ngơ trước hai sự thực quan trọng: nỗ lức chiến tranh của Nam Việt Nam đang tiến những bước dài, và vấn đề chính của Nam Việt Nam là sự xâm nhập càng ngày càng tăng của Cộng quân qua ngả Ai Lao." (tr 228)

 

 

© DCVOnline


(3) Nhà văn Xuân Vũ trong bộ hồi kư Đường Đi Không Đến, tập Đồng Bằng Gai Góc, trang 89 đă thuật lại lời của một đại đội phó Việt Cộng tên B́nh, họ Lê tham dự trận Ấp Bắc kể lại cho tác giả như sau: Tiểu đoàn em chết gần hết. Ban chỉ huy tiểu đoàn không c̣n ai. Các ban chỉ huy đại đội hi sinh hoàn toàn. Em lúc đó là tiểu đội phó được cho làm đại đội phó. Nhưng đại đội em chỉ được 2 tiểu đội. Cả tiểu đoàn quân số 200, c̣n lại độ năm chục..."