Minh Vơ
Từ trước tới giờ phần đông kư giả và sử gia
Mỹ đều cho rằng Hoa Kỳ đă lầm khi ủng hộ
miền Nam Việt Nam chống lại Cộng Sản miền
Bắc. Họ ca ngợi Hồ Chí Minh là nhà ái quốc,
có tài trí hơn người và được ḷng dân. Họ
coi các nhà lănh đạo miền Nam, kể cả ông Ngô
Đ́nh Diệm đều bất tài, vô tướng và là tay
sai thực dân đế quốc. Quan điểm lịch sử đó
được mệnh danh là "chính thống" (!) (tạm
dịch từ Orthodox của tác giả Mark Moyar)
Nhưng gần đây một số sử gia Mỹ đă bắt đầu
xét lại quan điểm đó. Trong số này có giáo
sư tiến sĩ sử học Mark Moyar. Tiến sĩ Mark
Moyar đậu cử nhân (hạng tối ưu với lời khen
của ban giám khảo) về môn sử tại đại học
Havard danh tiếng nhất của Mỹ. Sau đó đậu
tiến sĩ sử học tại đại học Cambridge. Ông
từng giảng dậy tại đại học Cambridge, đại
học Tiểu Bang Ohio, đại học A&M Texas, và
đại học Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ ở
Quantino, Virginia.
Năm ngoái (2006) sở Báo Chí Đại Học
Cambridge đă xuất bản cuốn sách 512 trang
khổ lớn của ông nhan đề TRIUMPH FORSAKEN.
Đây là tập I của bộ sách 2 tập về cuộc chiến
Việt Nam. Theo tác giả, cuộc chiến này đáng
lẽ đă kết thúc bằng một chiến thắng oanh
liệt, mà lại trở thành một chiến bại nhục
nhă. Trong cuốn sách này, tác giả đă rà xét
lại tất cả mọi dữ kiện, đối chiếu nhiều tài
liệu vô số kể của nhiều nguồn thuộc mọi
phía, trong đó có những tài liệu mới được
giải mật của Mỹ và tài liệu Cộng Sản (Liên
Xô cũ, Trung Quốc, và Việt Nam), để đi đến
một kết luận có cơ sở vững vàng.
|
 |
|
Chiến
thhang bỏ lỡ
Nguồn: Cambridge University Press,
October 2006
|
Cuối sách không có phần thư mục như phần lớn
các sách biên khảo. Nhưng gần 2000 chú thích
ghi chi tiết trong 85 trang sách đă cho thấy
hàng trăm tác phẩm và tài liệu được tham
khảo và dẫn chứng một cách tỷ mỷ để chứng
minh lập luận "xét lại" của tác giả. Ví dụ
chỉ nguyên một chương 16 đă có tới 176 chú
thích trưng dẫn hàng trăm tác phẩm hay chỉ 3
trang đầu của bài tựa thôi đă có tới 19 chú
thích mà chi tiết choán hẳn 3 trang, Cũng
trong lời tựa này, nguyên một chú thích 2 đă
trưng dẫn gần 100 tác phẩm
Tập một này có 17 chương, trong đó có 10
chương về chính quyền Ngô Đ́nh Diệm.
Đọc kỹ lời tựa và chương đầu, ta sẽ thấy đại
cương về lập luận của tác giả.
Nhà xuất bản trích dẫn lời phê b́nh và đánh
giá của 6 tác giả và giáo sư sử học về tác
phẩm của Mark Moyar. Sau đây là ư kiến của
Giáo sư sử học Thomas Alan Schwartz:
"Triumph forsaken là một cuốn
sách đặc sắc. Công tŕnh (biên
khảo) của Mark Moyar là sự thách
đố mạnh mẽ nhất đối với sự giải
thích chính thống về nguồn gốc
việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam.
Bằng cái nh́n mới mẻ vào những
nguồn tài liệu gốc, cũng như t́m
hiểu, khai thác những tư liệu
mới từ các văn khố Mỹ cũng như
Cộng Sản, Moyar đă tạo nên một
lối giải thích khác về cội nguồn
của sự dấn thân (tham chiến) của
Hoa Kỳ. Tác phẩm của Moyar thúc
đẩy các sử gia phải mở lại cuộc
tranh luận về ư nghĩa cuộc chiến
tranh Việt Nam."
Sau đây là nhan đề của 17 chương
sách trong tập I:
1. Di sản
2. Hai nước Việt Nam: Từ tháng 7 năm
1954 đến tháng 12 năm 1955
3. Sống chung ḥa b́nh: Từ 1956 đến
1959
4. Cuộc nổi dậy: 1960
5. Cam kết nhập cuộc: 1961
6. Sự trẻ trung hoá: Từ tháng 1 đến
tháng 6 năm 1962
7. Tấn công: Từ tháng 7 đến tháng 12
năm 1962
8. Trận Ấp Bắc; Tháng 1 năm 1963
9. Ông Diệm gặp gian nan: Từ tháng 2
đến tháng 7 năm 1963
10. Sự phản bội: Tháng 8 năm 1963
11. Tự hủy: Từ tháng 9 đến ngày 2
tháng 11 năm 1963
12. Trở lại t́nh trạng "Thập Nhị Sứ
Quân": Từ 3 tháng 11 đến tháng 12
năm 1963.
13. Tự chế: Từ tháng 1 đến tháng 7
năm 1964
14. Những tín hiệu: Từ tháng 8 đến
tháng 10 năm 1964
15. Xâm nhập: Từ tháng 11 đến tháng
12 năm 1964
16. Phần thưởng chiến thắng: Từ
tháng 1 đến tháng 5 năm 1965
17. Quyết định: Từ tháng 6 đến tháng
7 năm 1965.
Lời tựa
Sau khi nhấn mạnh sự cần thiết phải
nghiên cứu phân tách kỹ những nguồn
tài liệu gốc càng ngày càng được
phát hiện ra về mọi mặt của cuộc
chiến, từ quân sự, chính trị, ngoại
giao, do đó tác phẩm phải gồm 2 tập,
thay v́ một tập như dư tính ban đầu,
tác giả tŕnh bày thực trạng lịch sử
Hoa Kỳ do hai xu hướng "chính thống"
và "xét lại". Quan điểm "chính
thống" có vẻ lấn át quan điểm xét
lại. Thậm chí trong giới khoa bảng,
người ta cho rằng phe xét lại không
đáng gọi là sử gia, chỉ là những nhà
"ư thức hệ" (ideologues) .
Theo quan điểm "chính thống" th́ dân
Việt vốn thù dân Tầu, và thường đánh
thắng quân Tầu. V́ vậy nếu đừng xua
đuổi Hồ Chí Minh, th́ ông ta đă có
thể trở thành một Ti Tô của Việt
Nam, chứ không đi theo Tầu Cộng, và
Liên Xô.
Tác gỉa đă ghi rằng nghiên cứu kỹ
lịch sử Việt Nam th́ sẽ thấy, các
cuộc chiến tranh xảy ra phần lớn
giữa người Việt với nhau, và giữa
người Việt với những sắc dân khác,
như Chàm, Khmer hay Mông Cổ... chứ
không phải giữa người Việt với người
Tầu. Chỉ trừ một vài trường hợp cá
biệt.
Từ đó ông cho rằng Hồ Chí Minh nếu
có ghét Tầu là ghét Tầu Quốc Dân,
như phe Tưởng Giới Thạch, chứ không
bao giờ ghét Tầu Cộng của Mao Trạch
Đông. Trái lại sẵn sàng rước Tầu
Cộng vào để đánh người Việt yêu
nước. Ông viết:
|
 |
|
Hồ thường tỏ ḷng kính
cẩn với quan thầy
Nguồn: Triumph Forsaken
|
"Hồ thường tỏ ḷng kính
cẩn với quan thầy hơn
đối thủ của ông ta ở
miền Nam là Ngô Đ́nh
Diệm, người đă thà chết
hơn là làm theo yêu cầu
của đồng minh Hoa Kỳ của
ông ta. Hồ là tín đồ
nhiệt thành của Mác và
Lênin, dấn thân sâu đậm
vào chủ nghĩa Quốc Tế
Cộng Sản, cho nên không
thể hy sinh t́nh liên
đới Cộng Sản cho quyền
lợi "hẹp ḥi" của Việt
Nam. Do đó, trái với
những suy diễn được
nhiều người chia sẻ, ông
ta sẽ chẳng bao giờ lại
chống người láng riềng
Trung Cộng, hay bất cứ
nước bạn Cộng sản nào
khác, nếu Hoa Kỳ cho
phép ông ta thống nhất
Việt Nam. Ông ta không
bao giờ để Hoa Kỳ biến
nước Việt Nam thành một
Nam Tư của châu Á."
Về lănh tụ miền Nam, tác giả
viết:
"Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm của
miền Nam, không
ngừng bị các sử
gia phe "chính
thống" mô tả như
một kẻ đần độn,
tên phản động,
một bạo chúa.
Nhưng thực ra
ông là một lănh
tụ rất khôn
ngoan, uyên bác
và đắc lực. Là
một người hiến
thân cho hạnh
phúc của dân tộc
ḿnh, ông "dùng
uy tín cá nhân
để trị nước gần
như một nhà độc
tài" (12 từ
trong ngoặc kép
của người viết
để tạm dịch từ
authoritarian
của tác giả) v́
ông cho rằng chế
độ dân chủ kiểu
Tây phương không
thích hợp với
một đất nước
đang bị phân tán
và có một nền
văn hoá độc
đoán. Những biến
cố xảy ra sau
khi ông bị giết
đă chứng tỏ niềm
tin đó là đúng."
(....)
Sau khi nêu đích
danh Trung tá John
Paul Vann, hai nhà
báo trẻ David
Halberstam và Neil
Sheehan và đại sứ
Cabot Lodge, kết tội
họ đă loan tin thất
thiệt, thiếu lương
thiện và đánh lừa
thượng cấp để cố hạ
uy tín của Tổng
Thồng Diệm, vu khống
là chính quyền của
ông bất lực trong
việc giữ an ninh,
tác giả viết về cuộc
đảo chính
01/11/1963:
"Cho đến
nay, đă
rơ cuộc
đảo
chính
tháng 11
năm 1963
là một
lỗi lầm
tệ hại
nhất của
người
Mỹ. Trái
hẳn với
những
lời quả
đoán sau
đó của
những kẻ
cổ vơ
cho cuộc
đảo
chính,
rằng nỗ
lực
chiến
tranh
của Nam
Việt đă
bước vào
thời kỳ
suy
thoái
trong
những
tháng
cuối
cùng của
chế độ
Ngô Đ́nh
Diệm.
Các
nguồn
tin từ
phía Bắc
Việt,
cũng như
từ phía
Hoa Kỳ
đă cung
cầp bằng
chứng
cho thấy
cuộc
chiến
lúc ấy
đang
tiến
hành một
cách
thỏa
đáng,
thuận
lợi."
Về t́nh
trạng rối
lọan và sự
kém cỏi của
các chính
quyền hậu
đảo chính,
tác giả cho
rằng chưa
mấy người
hiểu rơ
nguyên nhân.
Ông viết:
"Hậu quả của sự điều hành kém cỏi của chính quyền miền Nam từ sau khi ông Diệm chết cho đến năm 1965 th́ hầu như ngày nay ai cũng đă thấy. Nhưng về những nguyên nhân của nó th́ chưa mấy người hiểu. Theo một cách giải thích "chuẩn" th́ chính quyền Saigon thất bại v́ những nhà lănh đạo Việt Nam và những cố vấn Mỹ đă chọn lầm phương pháp để đánh địch.
Tuy nhiên thực ra, vấn đề không nằm ở khái niệm mà ở cách thi hành. Một sự giải thích tiến bộ hơn, gần trọng điểm hơn, nhưng vẫn chỉ đúng một phần, đó là miền Nam lúc ấy bị chao đảo, lọang chọang v́ giới thượng lưu cầm quyền đă mất những nhà lănh đạo kiên cường.
Nhiều cá nhân giữ những địa vị trong chính quyền trong thời hậu Diệm, đích thực, thiếu các đức tính cần thiết của một nhà lănh đạo, và chẳng ai có tài bằng Ngô Đ́nh Diệm. Nhưng tầm cỡ của tập thể giới lănh đạo nói chung không phải là vấn đề then chốt. Vấn đề quan trọng , thực ra chính là sự lọai trừ một số người trong giới thượng lưu ra khỏi chính phủ và sự thao túng của phong trào Phật Giáo trong việc vận dụng các nhà lănh đạo chính phủ. Kể từ tháng 11 năm 1963 về sau những lănh tụ hàng đầu ở Saigon không ngừng lặp đi lặp lại việc lọai trừ những người có tài đáng kể, hoặc v́ những người này đă trung thành với ông Diệm, hoặc v́ những lănh tụ đó bị áp lực từ nhóm Phật Giáo tranh đấu..."
Vài
trích
đọan
trên
đây
của
Lời
Tựa
đă
tóm
tắt
quan
điểm
"xét
lại"
của
tác
giả
về
những
sự
kiện
lịch
sử
liên
quan
đến
ông
Hồ
Chí
Minh,
ông
Ngô
Đ́nh
Diệm
và
chính
t́nh
miền
Nam
Việt
Nam
từ
1945
đến
1965.
Hơn
400
trang
sách
kế
tiếp
đă
được
tác
giả
dùng
để
trưng
dẫn
những
tài
liệu
chính
xác
để
chứng
minh
quan
điểm
trên
là
đúng.
V́
là
những
tài
liệu
phức
tạp,
mới
có,
cũ
có
từ
nhiều
nguồn
khác
nhau
nhiều
khi
trái
ngựoc
mâu
thuẫn
nhau.
Nên
không
thể
nào
thu
gọn
trong
phạm
vi
một
bài
báo.
V́
vậy
chúng
tôi
xin
để
độc
giả
t́m
đọc
trong
chính
tác
phẩm
TRIUMPH
FORSAKEN
tập
I.
Sau
đây
chỉ
xin
tóm
tắt
vài
ư
chính
và
trích
dịch
một
số
đọan
đáng
chú
ư
của
mấy
chương
đầu
của
tập
I,
v́
tập
II
chưa
xuất
bản.
Chương
1:
Di
Sản
Mở
đầu
là
quang
cảnh
tấp
nập
tưng
bừng
tại
công
trường
Puginier,
Hà
Nội
(nay
là
quảng
trường
Ba
Đ́nh)
ngày
ra
đời
của
Việt
Nam
Dân
Chủ
Cộng
Ḥa.
"Theo lời mời của ông Hồ, vài sĩ quan t́nh báo OSS Mỹ đứng gần khán đài. Hai chiếc máy bay chiến đấu Lightning P-38 t́nh cờ bay trên đám đông trong buổi lễ. Cả hai điều đó đă tạo nên một cảm tưởng sai lầm rằng chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ Hồ Chí Minh."
Trong lời tuyên bố độc lập mở đầu với lời lẽ lấy từ bản tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ và Pháp, ông Hồ đă kịch liệt đả kích thực dân và xác quyết rằng chính phủ của ông đại diện ṭan thể nhân dân Việt Nam.
"Ông ta không nói ǵ đến ư thức hệ chính trị, mà chỉ bàn về mục đích của ông là thành lập một nước Việt Nam độc lập."
Nhiều người đă cho rằng bản tuyên ngôn này chứng tỏ chủ nghĩa quốc gia chứ không phải chủ nghĩa quốc tế Cộng Sản đă là động lực cách mạng của ông Hồ. V́ vậy nếu như Mỹ đừng ủng hộ Pháp thực dân, và đừng dựng nên những chính phủ tay sai ở miền Nam chống lại ông Hồ th́ Việt Nam và Hoa Kỳ đă có thề là đồng minh, và ông Hồ đă quay lại chống Trung Cộng.
"Nếu người Mỹ hiểu lịch sử Việt Nam, th́ ṭan bộ thảm kịch đă có thể tránh được." (...)
"Cái lối lư luận trên đă sai lầm một cách chết người."
"V́ lịch sử Viêt Nam và lịch sử của ông Hồ thực sự đă hỗ trợ cho những kết luận ngược hẳn".
Tác giả đă ôn lại lịch sử Việt Nam qua 7 trang sách để chứng minh.
Sau đó tác giả viết:
"Chỉ có một bằng chứng duy nhất có thể dùng để biện luận rằng ông Hồ không ưa người Tầu và những ngọai nhân khác là câu ông ta nói để bào chữa cho việc để quân Pháp vào Bắc Việt. (Theo Paul Mus, MV) ông Hồ đă nói: "Thà ngửi cứt Pháp một lúc c̣n hơn là phải ăn cứt Tầu suốt đời".
Nhưng rồi tác giả lại viết:
"Chút bằng chứng nhỏ nhoi đó rất yếu. V́ khi ông Hồ nói câu đó, theo lời thuật lại (của Paul Mus), th́ phần lớn nướcTầu đang ở dưới quyền cai trị của những người Trung Hoa theo chủ nghĩa Dân Tộc hăng hái chống cộng, và là những người đang tích cực ủng hộ những người Việt quốc gia chống cộng, là đối thủ hùng mạnh nhất của Việt Cộng."
Tác giả thuật lại việc ông Hồ nhanh chóng chớp thời cơ sau khi Nhật đầu hàng, đem quân cướp chính quyền trong khi các toán quân của các đảng Quốc Gia c̣n đang tiến chậm chạp từ Trung quốc về. Ông cũng nhấn mạnh đến việc quân của Hồ đă dùng vũ khí của Trung Hoa Dân Quốc và của Mỹ.
|

|
|
Phạm Văn Đồng (t), Vơ Nguyên Giáp (p) bên cạnh Hồ Chí Minh ngồi ghế mặc veston, quần ngắn, đi dép râu (Mùa Thu 1945)
Nguồn: Triumph Forsaken
|
Và yếu tố quan trọng khiến ông Hồ thành công bước đầu là "cá tính" của ông ta được người dân tin phục. Người dân Việt chú ư đến lănh tụ hơn là đảng và chủ thuyết của lănh tụ.
Tác giả nêu lên sự kiện Hồ Chí Minh cố thuyết phục những người Mỹ mà ông gặp rằng ḿnh không phải Cộng Sản, mà chỉ là người yêu nước, muốn đem lại độc lập cho đất nước. Nhiều sĩ quan OSS đă tin theo và muốn ủng hộ Việt Minh, trong đó có cả đại tá Archimedes Patti (lúc ấy là đại úy, MV). Nhưng tác giả đă trưng dẫn bức điện cùa chính Patti gửi về Hoa Thịnh Đốn ngày 29-8-45 viết rằng, "'những phần tử đỏ' đang lănh đạo chế độ Việt Minh đi trệch đường, và rằng những nhà lănh đạo chế độ thường nói tốt về chế độ tự do dân chủ, nhưng trong thực tế họ đang chuẩn bị những hành động phi tự do, phi dân chủ."
Sau đó tác giả đă nêu lên việc Việt Minh giết những người yêu nước như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn (2 lănh tụ VNQDĐ) và Bùi Quang Chiêu (Đảng Lập Hiến), Hồ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Trương Đ́nh Thi, Trương Tử Anh (lănh tụ Đại Việt)...
Về chiến thắng Điện Biên của CS, tác giả đă trưng dẫn Janos Radvanyi (Ảo tưởng và thực tại, South Bend: Gateway, 1978) cho biết chính Vơ Nguyên Giáp đă tiết lộ với tác giả (Janos):
"Trận Điện Biên Phủ là cố gắng tuyệt vọng cuối cùng của Quân Đội Việt Minh. Lực lượng chiến đấu của nó sắp sửa kiệt quệ ḥan ṭan. Nguồn tiếp tế gạo đă cạn kiệt. Dân chúng đă lănh đạm thờ ơ đến độ thật là khó có thể lấy thêm lính. Nhiều năm chiến đấu trong rừng rậm đă làm cho tinh thần chiến đấu của các đơn vị sa sút tột cùng."
Sau một số bằng chứng khác, Mark Moyar kết luận: "Tóm lại cả hai phía đều đă có cơ may chiến thắng trận quyết định tại Điện Biên Phủ." (trang 26)
Chương 2: Hai nước Việt Nam (từ tháng 7-1954 đến tháng 12- 1955)
Sau khi mở đầu bằng hiệp định Giơ Neo và việc thành lập Tổ Chức Hiệp Ước Liên Pḥng Đông Nam Á (SEATO), tác giả nhắc đến nhu cầu ủng hộ của Mỹ đối với những lănh tụ các Quốc Gia bị trị đang bị Cộng Sản đe dọa. Và ông viết:
"Nam Việt Nam thực sự đang có một người yêu nước cương nghị có thể trở thành nền tảng cho một quốc gia chống cộng, dù rằng vào mùa hè năm 1954 nhiều người Mỹ không tin hẳn như vậy."
Rồi ông để nhiều trang nói về con người và họat động của nhân vật này...
"Ngô Đ́nh Diệm đă rời Việt Nam vào năm 1950, sau khi bị Việt Minh tuyên án tử h́nh, v́ đă phát triển một tổ chức yêu nước mới. Sang Nhật, ông gặp Westley Fishel, giáo sư chính trị học tại đại học California, lúc ấy đang làm việc cho CIA. Theo lời khuyên của Fishel, Diệm sang Mỹ năm 1951 thuyết tŕnh tại các trường Cao Đẳng và t́m sự ủng hộ của các viên chức chính quyền. Diệm được sự nâng đỡ của một số người Mỹ có địa vị cao, kể cả thẩm phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas, hồng y Francis Spellman, dân biểu tiểu bang Montana là Mike Mansfield, và dân biểu John F. Kennedy thuộc tiểu bang Massachusetts. Tháng 6 năm 1954, vào giữa cuộc thương thuyết ở Giơ-Neo, người Pháp tuyệt vọng, đă trao trả độc lập hoàn toàn cho chính quyền Bảo Đại, và ông này đă yêu cầu Diệm nhận chức thủ tướng."
"Quyết định của Bảo Đại không do áp lực của Mỹ, như có người suy đoán, mà là v́ nhiều lănh tụ đảng phái quốc gia Việt Nam ủng hộ Diệm . Bảo Đại nói với Diệm: 'Đất nước có nguy cơ bị chia đôi. Ông không có quyền tránh né trách nhiệm. Sự an toàn của Tổ Quốc đ̣i hỏi như vậy'. Diệm đă từng khước từ chức thủ tướng do Bảo Đại mời nhiều lần. Nhưng lần này ông ta nói, sẽ nhận, nếu Bảo Đại cho ông ta được toàn quyền kiểm soát toàn bộ các vấn đề dân sự và quân sự. Từ trước Bảo Đại chưa bao giờ cho ai điều đó. Nhưng lần nay ông ta đồng ư. Và Diệm trở thành thủ tướng."
Sau đó, tác giả nói đến những khó khăn chồng chất ban đầu do di sản chiến tranh và chia rẽ để lại mà ông Diệm phải vượt qua. Cầu đường bị phá, hệ thống viễn thông bị cắt, nông dân thất nghiệp lang thang, kể cả dân tỵ nạn từ miền Bắc trở thành gánh nặng. Nặng nhất là guồng máy hành chính và quân sự tan hoang, sau khi người Pháp ra đi và hàng vạn lính đào ngũ. Riêng về việc chuyển vận, tổ chức tiếp đón và định cư cho gần một triệu dân, tác giả đă trích dẫn nhà báo Bernard Fall, tác giả cuốn The Two Vietnams:
"Bernard Fall, một trong những người từng chỉ trích ông Diệm kịch liệt nhất, đă nhận xét: "Di chuyển gần một triệu lính được huấn luyện thành thục trong thời b́nh đă là một kỳ công về vận chuyển và tiếp liệu. C̣n di chuyển cũng ngần ấy thường dân tỵ nạn chạy trốn vô tổ chức trong ṿng không đầy một năm chắc chắn sẽ c̣n là một thành tích nổi tiếng về lâu về dài."
Trong chương này tác giả nêu lên hai nhân vật Mỹ nổi bật, một người cố giúp ông Diệm lướt thắng mọi trở ngại và một người bằng mọi cách muốn hạ ông Diệm hay thay thế ông bằng những lănh tụ khác. Đó là Edward Geary Lansdale, đại tá, và J. Lawton "Lightning Joe" Collins, đại tướng. Lansdale được ủy nhiệm của Allen Dulles, giám đốc CIA. C̣n Collins là đặc phái viên toàn quyền của tổng thống Mỹ, đồng thời cũng là bạn thân của Tổng Thống Eisenhower.
V́ tin tưởng rằng một chính phủ mạnh phải có một đạo quân mạnh, nên Tổng Thống Eisenhower đă ngay lập tức thuyên chuyển tướng J. Lawton "Lightning Joe" Collins, nguyên tham mưu trưởng Lục Quân, nguyên đại diện Hoa Kỳ tại ủy ban quân sự thuộc Minh Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) tới ngay Saigon thay thế đại sứ Heath để quán xuyến mọi nỗ lực. Khi Collins lên đường đi Saigon, ngọai trưởng Dulles bảo ông: ' Hoa Kỳ hy vọng cơ may thành công chỉ có một trên mười. (1)
Muốn chứng tỏ ông Diệm là người khó hiểu đối với người Mỹ, tác giả đă nêu hai nhận xét trái ngược của tướng Collins về ông Diệm như sau:
"Mới đầu Collins báo cáo: "Diệm là một người nhỏ thó, nhút nhát, thiếu tự tin hầu như không có hấp lực nào...." (...) Vài tháng sau, Collins lại ca tụng phẩm cách của Diệm: "Sự liêm khiết, ḷng yêu nước mănh liệt, sự nhẫn nại và những đức tính linh thiêng khác làm ông ta trở thành vị thủ tướng tốt nhất có thể có để lănh đạo Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Cộng." (2).
Nhưng rồi sau đó Collins lại hàng chục lần yêu cầu Hoa Thịnh Đốn thay thế vị thủ tướng mà ông gọi là bất tài và ương ngạnh này.
Trong bài Tết Con Heo nhớ Xuân Con Mèo, chúng tôi đă trưng dẫn Seth Jacobs, tác giả cuốn America's Miracle Man in Vietnam, nói tướng Collins đă 12 lần đề nghị với Tổng Thống Eisenhower thay thế ông Diệm, bằng một người khác, và nhiều lần ông đă nêu đích danh Bác Sĩ Phan Huy Quát, hay Bác Sĩ Phan Huy Đán (hay Phan Quang Đán). Th́ ở đây Tiền Sĩ Mark Moyar cũng 5 lần, 7 lượt nói đến chuyện tướng Collins đề nghị với Tổng Thống nên t́m người khác thay thế một ông Diệm ngang bướng, bất phục thiện.
Dĩ nhiên Tổng Thống tin người bạn thân của ḿnh, lại là đại diện toàn quyền có mặt tại chỗ. Nên đă nhiều lần Tổng Thống muốn thuận theo.
Nhưng những biến cố dồn dập trong ṿng mấy tháng cuối năm 1954 và đầu năm 1955 cho thấy khả năng phi thường của ông Diệm trước những vấn đề nan giải đến tuyệt vọng, đă khiến Toà Bạch Ốc thay đổi ư định. Thay v́ thay thế ông Diệm, Tổng Thống Mỹ đă triệu hồi hẳn vị Đại Sứ Toàn Quyền về Mỹ. Rồi Eisenhower ca ngợi Ngô Đ́nh Diệm là "Con Người Thần Kỳ" (A Miracle Man). Năm 1957 ông cho trải thảm đỏ, ra tận chân cầu thang máy bay đón Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà.
Sau đây là một vài trích đọan về những đề nghị liên tiếp của tướng Collins nhằm đánh đổ Ngô Đ́nh Diệm được tác giả nêu lên giữa lúc ông Diệm phải đối phó với quân đội viễn chinh Pháp hăy c̣n trấn giữ nhiều địa điểm trọng yếu tại thủ đô, và hiện đang ủng hộ lọan tướng Nguyễn Văn Hinh muốn lật ông Diệm; các giáo phái muốn duy tŕ t́nh trạng "Thập nhị sứ quân", bất tuân lệnh thủ tướng; giữa lúc nhóm B́nh Xuyên vốn được Quốc Trưởng Bảo Đại ưu đăi, hiện đang làm mưa làm gió, v́ toàn bộ lực lượng Cảnh Sát Công an nằm trong tay Lai Văn Sang, cánh tay phải của đầu đảng Lê Văn Viễn tục gọi Bảy Viễn; giữa lúc chương tŕnh định cư gần một triệu dân tỵ nạn CS từ miền Bắc vào đang cần xúc tiến thật nhanh để tạm thời giải quyết những khó khăn trở ngại do tâm lư và phong tục tập quán khác nhau giữa hai miền Nam Bắc....Trong hoàn cảnh đó,
"Giới ngọai giao ở Saigon hầu hết đều tin rằng chính phủ Diệm sắp đổ đến nơi. Và báo chí của Pháp tiên đoán sự sụp đổ của Diệm với sự vui mừng khôn tả. Trong khi đó cả báo Mỹ cũng tiên đoán như vậy, nhưng không vui."
"Khi Tướng Collins từ Saigon về đến Hoa Thịnh Đốn (đề tường tŕnh), ông đă nói với Tổng Thống Eisenhower rằng cần phải lọai bỏ Diệm ngay tức khắc."
Tổng Thống và Ngoại trưởng đưa ra nhiều lư do để bác bỏ và đ̣i phải đợi cho đến lúc t́m được người tương xứng để thay thế.
"Nhưng Collins vẫn cứng rắn (như kim cương). Phải lọai bỏ Diêm ngay."
Và hai nhà lănh đạo Mỹ đành nhượng bộ. Mọi văn kiện cần thiết đă sọan thảo gửi đi Paris và Saigon để t́m người thay thế ông Diệm.
"Bộ ngọai giao gửi công điện đi ngày 27 tháng 4 chỉ ít phút sau 6 giờ, giờ Hoa Thịnh Đốn."
"Vừa đúng lúc xem ra chế độ Diệm đang tiến tới nhà quàn, th́ Diệm lấy một sáng kiến làm đảo lộn kế họach của Collins." (....)
Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm đă chiến thắng các phe phái chống ông ra sao, lịch sử đă ghi đầy đủ, và được tác giả nhắc lại một cách tóm tắt.
Sau khi đánh bại mọi thế lực ḱnh chống ông, ông Diệm bắt đầu tập trung nỗ lực vào việc truy lùng những phần tử Cộng sản được gài lại ở miền Nam, sau khi một số cán bộ đă tập kết ra Bắc theo hiệp định Giơ Neo.
Chương 3: Sống chung hoà b́nh: Từ 1956 đến 1959.
Tác giả dành mấy trang đầu nói về chủ trương sống chung hoà b́nh của Khrutshchev khiến Hà Nội có vẻ nghiêng về phía Trung Cộng và t́m sự ủng hộ của "anh ba". Nhưng Trung Cộng c̣n bị vết thương chiến tranh Triều Tiên hành nên lạnh nhạt và dè dặt khuyên đàn em "phải nhẫn nại".
|

|
|
15/05/1957: Ngày Ngô Đ́nh Diệm tại đại học Michigan. Michigan là đại học đă hoạt động giúp đỡ VNCH về mặt kỹ thuật
Nguồn: s150.msu.edu
|
Rồi ông nói đến hậu quả tai hại của Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc. Những bất măn từ nhiều phía. Những cuộc nổi lọan. Vụ thảm sát tại Qùynh Lưu, trong đó ông Hồ đă dùng cả sư đoàn 325 để đàn áp giết hàng ngàn người vô tội
Sau đó là t́nh trạng kinh tế hầu kiệt quệ của miền Bắc do việc công hữu hoá mọi cơ sở thương mại, và chế độ hợp tác hoá công thương nông nghiệp...
Nửa sau của chương sách nói về những thành quả của chính quyền Diệm về phương diện kinh tế, giáo dục, an ninh. Về công cuộc "cải cách điền địa". Về "bức tường người" (human wall) mà ông Diệm dựng lên ở cao nguyên là lănh thổ chiến lược dùng để chống lại sự xâm nhập tương lai của Cộng Quân. Tác giả đă nhắc lại lời Tổng Thống Diệm từng nói: "ai giữ được cao nguyên th́ giữ được cả nước".
Về bản chất chế độ Việt Nam Cộng Hoà, tác giả phê b́nh nhẹ nhàng rằng tuy theo hiến pháp đó là một chế độ tự do dân chủ theo Tổng Thống Chế, nhưng trên thực tế ông Diệm đă khéo léo nắm giữ cả 2 quyền lập pháp và tư pháp. V́ quốc hội gồm phần lớn người trung thành với ông. Tác giả trưng dẫn lời của Douglas Pike nói về tự do ngôn luận của VNCH như sau: "Một trong những hồi ức mạnh nhất của tôi tại Việt Nam năm 1960 là nghe thấy dân Việt Nam tại những nơi công cộng nói lớn tiếng , rất dễ nghe thấy, rằng 'chế độ này là chế độ độc tài, và chúng tôi không có tự do ngôn luận' rồi họ tha hồ kể ra những tội lỗi cũa chính phủ. Dường như có một luật bất thành văn là chống đối vô tổ chức th́ được, nhưng chống đối có tổ chức th́ cấm." (Xem Việt Cộng của Douglas Pike, Cambridge M.I.T., 1966, tr. 59)
Để phần nào bào chữa cho ông Diệm, tác giả viết:
"Diệm thường nhắc đi nhắc lại lời thú nhận rằng ông ta ước ao có được nền dân chủ trong thời gian này. Nhưng ông ta lại nói dân chủ không thể tới ngay tức khắc. Và thực ra ông ta quan niệm dân chủ không giống người Tây phương, hay những người Việt đă bị Tây phương hoá. Ông ta hiểu dân chủ như thế này: "Dân chủ chủ yếu là một cố gắng thường trực để t́m ra những phương tiện chính trị đúng đắn ngỏ hầu bảo đảm cho người dân cái quyền phát triển tự do và sáng kiến tối đa, phát triển tinh thần trách nhiệm và cuộc sống thiêng liêng." (trang 75)
Chương 4: Nổi dậy: 1960
Trong chương này tác giả nói về những cuộc nổi dậy của Cộng quân, đặc biệt ở Bến Tre (Kiến Hoà), Tây Ninh và cả cuộc nổi lọan của một số sĩ quan VNCH, được biết đến như một chính biến hay đảo chính hụt tháng 11 năm 1960.
Trước hết là vai tṛ lănh đạo những cuộc nổi dậy tại tỉnh Bến Tre của nữ tướng Việt Cộng Nguyễn Thị Định.
"Tất cả những ǵ cộng Sản có thể làm được là tổ chức hàng ngàn phụ nữ bao vây trụ sở các quận lỵ, phóng uế trên đất (defecate on the ground!), và đ̣i trừng phạt quân của chính phủ, đ̣i bồi thường cho các nạn nhân của chúng. Tuy những cuộc nổi dậy này đă làm sống lại phong trào Cộng Sản trong vùng và cho họ một số vũ khí. Nhưng không đạt được mục đích lập một vùng giải phóng lâu dài."
Họat động của Cộng quân ở Tỉnh Tây Ninh gậy cho chính phủ nhiều tổn thất hơn. Sáng ngày 26-1-60, 4 đại đội VC tấn công một căn cứ của quân chính phủ, giết chết viên sĩ quan xử lư thường vụ trung đoàn trưởng và 40 quân sĩ khác. V́ thất bại này, viên trung đoàn trưởng bị giáng chức xuống đại úy và sư đoàn trưởng bị cách chức.
Tháng 3 lại có thêm nhiều cuộc đụng độ nữa. Nhưng sau đó các cuộc tấn công bằng quân sự ngừng hẳn. Chính sách của Hà Nội là tạm thời chờ đợi. Văn kiện đảng ghi chỉ thị của Ủy ban Trung Ương Đảng đưa ra vào tháng 4:
"(...) chúng ta cần thời gian để cho phong trào phản đế và đặc biệt là phong trào chống Mỹ ở Đông Nam Á lớn mạnh hơn, và họat động với phong trào này nhằm làm suy yếu và cô lập bọn đế quốc Mỹ và đồng minh của chúng."
Việt Cộng trở lại h́nh thức du kích chiến, ám sát, bắt cóc. Mỗi tháng trong năm tháng đầu năm 1960 có 150 vụ ám sát và 50 vụ bắt cóc!
Dân vệ không đủ sức chống lại những hành động khủng bố này. Theo tác giả là v́ thiếu lănh đạo, và thiếu vũ khí. Ông quy trách cho đại sứ Durbrow không chịu cấp vũ khí theo yêu cầu của ông Diệm.
Trong giai đọan Cộng quân lui về du kích chiến và khủng bố ám sát, tác giả đưa ra nhận xét là cán bộ Cộng Sản tỏ ra hơn các viên chức chính phủ về phương diện lănh đạo, nhất là về tuyên truyền. Cộng sản biết cách thoả măn nhu cầu và đ̣i hỏi của ngừơi dân. Họ không giảng về lư thuyết chính trị, cũng chẳng nhấn mạnh đến ḷng yêu nước, hay chủ nghĩa dân tộc, càng tránh né không bao giờ nói đến chủ nghĩa Cộng Sản. Mà chỉ hứa chắc nịch rằng, nếu đánh đổ được chính quyền th́ sẽ được chia đất. Nhưng về cuộc Cải Cách Đẫm Máu ở miền Bắc, th́ có lẽ chẳng những dân quê miến Nam mà ngay cả cán bộ CS ở trong Nam cũng chưa từng nghe biết.
Về hiệu quả tai hại của tuyên truyền tác giả nêu một ví dụ của một thanh niên tên Lê Văn Toán, chỉ v́ nghe lời thuyết giảng hấp dẫn của cán bộ CS mà y đă giết cha ḿnh, v́ tin rằng ông làm điều sai trái như CS nói.
Tác giả nói nhiều về việc Tổng Thống Diệm xin viện trợ để trang bị cho 20.000 lính chuyên dùng vào việc bảo vệ dân quê, canh gác cầu đường và trụ sở các thị xă, quận lỵ. Tướng Williams tán thành, nhưng bị đại sứ Durbrow bác bỏ.
Đặc biệt trong cuộc đảo chính hụt đầu tháng 11, tác giả nghi ngờ Durbrow có yểm trợ phe đảo chính. Tuy không có bằng chứng hiển nhiên. Nhưng ông nêu lên rất nhiều sự việc, cũng như lời nói của vị đại sứ này khiến ai đọc cũng phải nghi như vậy. Có lẽ v́ thế mà người ta thấy Tổng Thống Diệm, mặc dù đă dẹp xong cuộc nổi lọan, đă lớn tiếng la mắng kẻ thù, mà ai cũng hiểu ông ám chỉ chính đại sứ Hoa Kỳ, Durbrow.
Sau cuộc đảo chính một nhân viên CIA từng liên lạc chặt chẽ với toà đại sứ là Carver đă phải rời Việt Nam, rồi sau đó ít lâu chính ông Durbrow cũng ra đi.
Chính bản tuyên ngôn của nhóm Caravelle cũng được Durbrow sau này cho biết là do một vài người Mỹ giúp sọan thảo. Cựu đại sứ Bùi Diễm, trong In The Jaws of History, th́ viết rằng ông là người giúp sọan thảo bản tuyên ngôn này.
|

|
|
26/10/1962: Ngày Quốc Khánh 1962, Việt cộng ném lựu đạn vào máy bay trực thăng triển lăm trước toà Đô chính Sài G̣n. H́nh 2 trẻ em và một thanh niên (trong số 7 người thiệt mạng và 47 người khác bị thương) v́ khủng bố.
Nguồn: history.navy. mil
|
Điểm khá quan trọng mà chúng tôi muốn nêu lên về chương 4 này, là tác giả đă trưng dẫn nhiều tài liệu để chứng minh rằng vào thời gian đó cả Liên Xô lẫn Trung Cộng đều không tán thành việc Bắc Việt tấn công miền Nam bằng quân sự, mặc dù vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, họ đă cố đưa một số đảng viên cốt cán vào dựng nên được cái gọi là Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, mà tác giả gọi là một thứ Việt Minh của miền Nam do Đảng Nhân Dân Cách Mạng (một chi nhánh hay đúng hơn, một cái tên khác của đảng Lao Động, tức đảng Cộng Sản Việt Nam) lănh đạo, cũng giống như năm 1945 Việt Minh cũng do đảng Cộng Sản lănh đạo vậy. Về việc này Mark Moyar viết:
"Bắc Việt liên tục phải đương đầu với sự hạn chế bạo động do Trung Cộng và Liên Xô áp đặt, v́ họ sợ Eisenhower nổi trận lôi đ́nh. Vào tháng 5, Trung Cộng bảo Bắc Việt rằng Nam Việt Nam sẽ phải được giải phóng, nhưng bằng chiến tranh trường kỳ gồm cả chính trị lẫn quân sự, chứ không phải dứt khoát bằng một chiến dịch quân sự." (trang 101)
Điểm chót về chương này cũng rất quan trọng không thể bỏ qua là trước t́nh h́nh Ai Lao bị Cộng Quân xâm chiếm, tổng Thống Eisehower đă hết sức quan ngại.
"Ông nói: 'Chúng ta không thể để Ai Lao rơi vào tay Cộng Sản, ngay cả nếu chúng ta phải chiến đấu – cùng với các đồng minh hay ngay cả không có đồng minh'. Nếu cuộc khủng hoảng ở Ai Lao xảy ra sớm hơn, rất có thể Eisenhower đă khởi công đưa lực lượng Mỹ vào Ai Lao. Nhưng lúc ấy chỉ c̣n vài tuần nữa hết nhiệm kỳ Tổng Thống, nên ông quyết định để cho vị tổng thống kế nhiệm lấy quyết định về Ai Lao và xem xét tường tận chính sách cần áp dụng."
Nhưng theo tác giả vị tổng thống sau này là "người mà ư chí và khả năng có thể khai chiến ở Ai Lao là vấn đề tranh căi."
Ư tác giả là Tổng Thống Kennedy sẽ không có ư chí và khả năng đánh Cộng như vị tiền nhiệm, là một thống tướng, chiến lược gia hàng đầu của Mỹ đă lănh đạo quân Đồng Minh chiến thắng Fát Xít Đức trong thế chiến II.
Bằng những lời trên tác giả đă kết thúc chương 4.
(1) Joseph Lawton Collins, Lightning Joe: An autobiogaphy (Baton Rouge: Lousiana State University, 1979), 379.
(2) Thư gửi ngọai trưởng Dulles ngày 20-1-1955, DDRS, 1978, 295A.
|