Ngồi lại với nhau, sẽ ra lời đáp!
SGGP:: Cập nhật ngày 21/08/2006 lúc 21:40'(GMT+7)

 

Bây giờ th́ ông đă bước qua bên kia đỉnh của cuộc đời! Song, những trải nghiệm mà ông – Giáo sư, Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn – cảm nhận được bằng cả chiều dài của sự nghiệp khoa học lại vô cùng quư báu. Điều ǵ đă giúp ông dù hoàn cảnh nào cũng thực hiện được ước vọng khoa học của ḿnh? – “Tôi luôn tự hỏi: ḿnh làm được ǵ cho đất nước, trước khi đ̣i hỏi đất nước làm ǵ cho ḿnh!”, ông đă nói với tôi như thế.

GS,TS Chu Phạm Ngọc Sơn phân tích mẫu thực phẩm trên máy sắc kư lỏng ghép khối phổ.

Vẫn cái chất giọng Nam bộ chất phác, ông nói: “Phần tôi, giờ th́ ḿnh tự sử dụng ḿnh thôi, cô à. Ḿnh ráng làm thế nào đó để có ích cho xă hội”. Câu trả lời nhẹ tênh, nghe đến nao ḷng! Dường như có nỗi buồn trong đó, phải không ông? Tôi hỏi. Ông cười lớn: làm khoa học với cơ chế hiện nay, đôi khi niềm vui ít, mà nỗi buồn nhiều, là lẽ đương nhiên.

Tôi kể với ông rằng, trên nhiều diễn đàn của giới trí thức, tôi luôn nghe thấy những nỗi trăn trở qua câu hỏi: các nhà khoa học trong nước đă được Nhà nước trọng dụng và sử dụng hết chưa? Và rồi, tôi tin cậy ở ông câu trả lời thỏa đáng. Bởi dù sao, ông cũng là một nhà khoa học đă sống qua nhiều thời kỳ của đất nước, mà nay ở vào tuổi 71, ông vẫn tiếp tục làm khoa học một cách miệt mài.

1. GS,TS Chu Phạm Ngọc Sơn tốt nghiệp Tiến sĩ Hóa tại Mỹ năm 1962, sau đó ông về công tác tại Đại học Khoa học Sài G̣n. - Vâng, nhưng sau 1975, ông là một trong những nhà khoa học được Chính phủ cách mạng rất tin dùng. Điều này do sự nổi tiếng vốn sẵn có, hay do sự năng động của ông mà buộc mọi người phải thừa nhận?

- Chắc có lẽ do cả hai. Những ngày đầu, cũng khó khăn lắm, không dễ dàng ǵ đối với tôi. V́, c̣n những suy nghĩ: Tại sao tôi lại không ra đi như những GS khác. Thậm chí, tôi làm ở pḥng thí nghiệm đến khuya, có quân quản trông chừng! Nhưng, ḷng say mê nghiên cứu khiến tôi không quan tâm đến những hoàn cảnh như vậy. Tôi chỉ nghĩ rằng, một khi quyết định ở lại th́ cố gắng làm cái ǵ đó cho đất nước ḿnh.

Thoáng tư lự, ông nói mà cứ như nhủ ḷng: Thật sự ra, người chinh phục tôi lúc đó chính là anh Sáu Dân (nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt). Ảnh chẳng biết ǵ tôi, tôi cũng chẳng biết ǵ về ảnh, thậm chí nh́n ảnh c̣n sợ nữa chứ (cười to)! Vậy mà, nghe nói có một tốp thầy cô giáo ngày đi t́m đá vôi, tối làm pḥng thí nghiệm đến khuya, anh Sáu liền ra vườn chặt quầy chuối gửi cho chúng tôi. Nhiêu đó thôi cũng làm tôi cảm động.

Sau này mối thâm giao đậm đà hơn, những chuyện gia đ́nh riêng của tôi, anh Sáu Dân cũng giúp đỡ. Tôi vẫn thường nói, lúc đó tôi không biết nhà nước cách mạng thế nào, nhưng rơ ràng tôi nh́n thấy ở anh Sáu một cái ǵ rất thân thiện, trong sáng. Có thể tôi gặp duyên may chăng!

Rồi những ngày ông và tiến sĩ Trần Kim Thạch cùng với bộ đội bên Quân khu 7 đi t́m đá vôi. Lúc đó t́nh h́nh miền Nam chưa yên lắm, chuyện đi lại c̣n khó khăn và nguy hiểm. Có những lúc ông chứng kiến chiếc máy cày đi trước nổ tung v́ vướng ḿn c̣n sót lại sau chiến tranh.

Thế là để bảo vệ sự an toàn cho các nhà khoa học, bộ đội đi trước ḍ ḿn, ông và nhóm nghiên cứu bước lần theo sau. Kư ức của những ngày gian khổ ấy, theo ông - khó mà quên cho được! Và nó cho ông hiểu ra một chân lư: “Hăy biết mở rộng ḷng ḿnh, sẽ có lúc nhận được những lời đáp đầy bất ngờ!”.

2. Nói lên nỗi băn khoăn của ḿnh giữa “nỗi buồn” và “nụ cười” của ông, khi đề cập đến chuyện nghiên cứu khoa học, tôi hỏi: Phải chăng đó là nụ cười mang vị đắng? Ông trả lời:

- “Tôi làm khoa học, cái ǵ cũng phải đàng hoàng, nghiêm túc. Nhưng trong hoàn cảnh, cơ chế tài chánh hiện nay, bắt buộc người làm khoa học khi quyết toán đề tài là phải nói láo. Nhiều nói láo và bịa quá. Tại sao tôi phải nói láo để được hưởng cái phần lẽ ra tôi phải được hưởng? Cái cơ chế quản lư khoa học, biết chắc rằng nhà khoa học phải nói láo, vậy mà vẫn cứ tồn tại. Phải chăng vô h́nh trung, đó là coi nhẹ khoa học và không coi trọng người làm khoa học?

Dù khởi đầu cuộc tṛ chuyện, ông luôn than - thôi nói măi mà có sửa đâu! Nhưng, khi đi sâu vào vấn đề cơ chế, nỗi bức xúc trong ông lại có dịp tuôn ra: “Không chỉ chuyện tiền bạc đâu, c̣n nhiều chuyện trong quản lư khoa học khiến tôi cảm thấy ḿnh bị đụng chạm”.

Và ông kể: “Hiện nay, một thầy giáo hướng dẫn nghiên cứu sinh lại không được ở trong hội đồng khi tṛ của ḿnh bảo vệ đề tài, phải ở bên lề, ai hỏi ḿnh th́ hỏi, ai không hỏi th́ thôi. Xem ra có vẻ vô tư, nhưng đối với thầy hướng dẫn th́ đó là sự không tin tưởng. Bất quá, ông thầy có vô hội đồng th́ cũng chỉ có một phiếu, làm sao khống chế được cả hội đồng!? Hay là chuyện sau khi bảo vệ luận văn ở cơ sở rồi, ra tới Bộ c̣n phải phản biện kín. Thật chua xót, khi lănh đạo Bộ không tin cả tập thể người thầy và cả hiệu trưởng đại học – người được Bộ chỉ định. Thật ra có kín ǵ đâu, nó hở tùm lum cả! Nhiều khi phải “cơm ghe bè bạn” này kia để… giải quyết!

Chưa hết đâu, lúc tôi c̣n làm Giám đốc Trung tâm Phân tích và Thí nghiệm TPHCM, tôi có nói với nhiều thầy ở các trường đại học cứ gửi người qua, trung tâm sẽ đào tạo miễn phí nhưng rồi cũng không có nhiều người được gửi qua. Tôi thật không rơ hết tất cả những lư do, nhưng phải chăng có một lư do là giải quyết được một phần cho thầy tiêu chuẩn: hướng dẫn bao nhiêu người, bao nhiêu bài báo… để được phong giáo sư, phó giáo sư… Nếu là như thế th́ rất dễ thông cảm nhưng cũng chính v́ cái thông cảm ấy, mà thấy buồn buồn v́ điều ấy ảnh hưởng rất lớn đến việc hợp tác trong nghiên cứu mà vào thời điểm này chỉ có như vậy mới tạo được những chuyển biến lớn về khoa học và công nghệ trong phục vụ đất nước. Măi đến nay vẫn chưa có những chế định ràng buộc hợp tác giữa trường đại học và viện nghiên cứu mà tôi cho là tối cần thiết để sử dụng hết chất xám và phương tiện của nhau.

Nói vậy, rồi ông lại chép miệng: thôi, nhiều chuyện lắm, nói măi mà có sửa đâu!

3. Không đến nỗi ảo tưởng, song trong tâm khảm mỗi người dân TPHCM đều hiểu rằng, lực lượng trí thức, khoa học của thành phố này không hề nhỏ và cũng không hề dở. Thế nhưng, v́ sao dấu ấn của họ trên con đường phát triển của thành phố lại không tương xứng? Nguyên nhân vướng mắc chỗ nào? Chia sẻ cùng tôi ư nghĩ này, ông đáp:

- “Thành phố này rất năng động, đă và đang đầu tư nhiều cho nghiên cứu khoa học, thế mà bây giờ nh́n lại kết quả vẫn chưa được như mong muốn, cả về phía lănh đạo cũng như về phía anh chị em trí thức. Buồn chứ! H́nh như hai bên chưa đủ độ tin cậy lẫn nhau”.

Nên mới có chuyện: trong vấn đề nước bẩn của thành phố chẳng hạn - Các nhà khoa học ta cứ nói, cứ làm, c̣n để chắc ăn th́ thành phố mời mấy nhà khoa học Pháp qua giải quyết. Thực ra những nhà khoa học của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TPHCM đă bước đầu xác định khá rơ vi khuẩn sắt và mangan là nguyên nhân của nước bị nhiễm bẩn rồi.

Vâng, tôi cũng nghĩ như ông. Chính v́ “thiếu hiểu biết chung” giữa nhà khoa học và nhà quản lư, mà mọi sự đầu tư vào nghiên cứu khoa học cũng như một số chương tŕnh phát triển của thành phố khá tốn kém, nhưng hiệu quả mang lại đang tiếp tục gây nhiều bàn căi trong giới trí thức, khoa học.

Không chỉ riêng ông, mà rất nhiều nhà khoa học đă đặt vấn đề: Lúc nào chúng ta cũng hô hào chung chung là đi vào công nghệ cao. Rồi nào là công nghệ vật liệu mới, rồi công nghệ sinh học, tự động hóa… Nhưng, cụ thể trong t́nh h́nh đất nước ḿnh hiện nay, cái ǵ là công nghệ cao? Cái ǵ là vật liệu mới? Cái ǵ của công nghệ sinh học mà ḿnh có thể làm?... Tất cả h́nh chưa có câu trả lời thỏa đáng.

- Đâu là “slogan” của ông để giải quyết vấn đề?

- Đơn giản là “Hăy thực ḷng ngồi lại với nhau v́ đất nước này”. Các nhà khoa học và nhà lănh đạo các cấp ngành phải ngồi lại với nhau. Đặt hết lên bàn, nói thẳng với nhau: đây, thành phố đang khó khăn thế này, cần đi lên thế này, để cùng nhau bàn bạc, vạch cho được hướng ra cụ thể, cũng như bước đi của từng giai đoạn. Có thế, các nhà khoa học mới biết ḿnh phải tập trung nghiên cứu những nội dung ǵ mà thành phố đang nhắm vào. Trên cơ sở đó, những đồng tiền nghiên cứu khoa học, nên được sử dụng tập trung vào một số đề tài có tầm cỡ lớn, có thể tạo ra những “cú đấm”, tạo bước ngoặt cho phát triển thành phố. C̣n những chuyện cần nghiên cứu ứng dụng nhỏ hơn cho sản xuất, th́ các đơn vị sản xuất phải bỏ tiền vào. Có vậy, giữa khoa học và sản xuất mới tiếp cận nhau hơn, hiểu nhau hơn th́ đề tài nghiên cứu khoa học mới sát sườn với cuộc sống, và sẽ tạo ra sản phẩm hiện thực hơn. Mặt khác, chính mối hợp tác gắn bó này sẽ tạo ra kinh phí nghiên cứu khoa học, điều mà Nhà nước không thể nào ôm xuể.


Bây giờ nghỉ hưu, ông đă ra làm tư nhưng vẫn tiếp tục công việc làm trước đây, tương đối không c̣n bị ràng buộc bởi những cơ chế “khắc nghiệt và phương thức quản lư khoa học chưa thật hợp lư” – ông nói với vẻ khá thoải mái: “Làm cố vấn chuyên môn ở Trung tâm Đào tạo và Phát triển Sắc kư, tôi cảm thấy thơi thới hơn nhiều lắm”.

Ông đang tự sử dụng ḿnh, tiếp tục “kiếp tằm” nhả những “sợi tơ” khoa học cho đời! Song, phần ḿnh, tôi vẫn bần thần, khi nhớ tới lời ông tâm sự: “Tôi không dám đăng kư nhận những công tŕnh nghiên cứu lớn của Nhà nước, v́ sợ khâu quyết toán tài chính lắm rồi!”. Phải chăng v́ cơ chế, chúng ta đang lăng phí không chỉ một nhà nghiên cứu khoa học ở độ chín mùi?

MAI LAN