Bây giờ th́ ông đă bước qua bên
kia đỉnh của cuộc đời! Song, những trải nghiệm mà ông – Giáo sư, Tiến sĩ
Chu Phạm Ngọc Sơn – cảm nhận được bằng cả chiều dài của sự nghiệp khoa
học lại vô cùng quư báu. Điều ǵ đă giúp ông dù hoàn cảnh nào cũng thực
hiện được ước vọng khoa học của ḿnh? – “Tôi luôn tự hỏi: ḿnh làm được
ǵ cho đất nước, trước khi đ̣i hỏi đất nước làm ǵ cho ḿnh!”, ông đă
nói với tôi như thế.
|
|
GS,TS Chu Phạm
Ngọc Sơn phân tích mẫu thực phẩm trên máy sắc kư lỏng ghép
khối phổ. |
Vẫn cái chất giọng Nam bộ chất phác, ông nói: “Phần
tôi, giờ th́ ḿnh tự sử dụng ḿnh thôi, cô à. Ḿnh ráng làm thế nào đó
để có ích cho xă hội”. Câu trả lời nhẹ tênh, nghe đến nao ḷng! Dường
như có nỗi buồn trong đó, phải không ông? Tôi hỏi. Ông cười lớn: làm
khoa học với cơ chế hiện nay, đôi khi niềm vui ít, mà nỗi buồn nhiều, là
lẽ đương nhiên.
Tôi kể với ông rằng, trên nhiều diễn đàn của giới trí thức, tôi luôn
nghe thấy những nỗi trăn trở qua câu hỏi: các nhà khoa học trong nước đă
được Nhà nước trọng dụng và sử dụng hết chưa? Và rồi, tôi tin cậy ở ông
câu trả lời thỏa đáng. Bởi dù sao, ông cũng là một nhà khoa học đă sống
qua nhiều thời kỳ của đất nước, mà nay ở vào tuổi 71, ông vẫn tiếp tục
làm khoa học một cách miệt mài.
1. GS,TS Chu Phạm Ngọc Sơn tốt
nghiệp Tiến sĩ Hóa tại Mỹ năm 1962, sau đó ông về công tác tại Đại học
Khoa học Sài G̣n. - Vâng, nhưng sau 1975, ông là một trong những nhà
khoa học được Chính phủ cách mạng rất tin dùng. Điều này do sự nổi tiếng
vốn sẵn có, hay do sự năng động của ông mà buộc mọi người phải thừa nhận?
- Chắc có lẽ do cả hai. Những ngày đầu, cũng khó khăn lắm, không dễ dàng
ǵ đối với tôi. V́, c̣n những suy nghĩ: Tại sao tôi lại không ra đi như
những GS khác. Thậm chí, tôi làm ở pḥng thí nghiệm đến khuya, có quân
quản trông chừng! Nhưng, ḷng say mê nghiên cứu khiến tôi không quan tâm
đến những hoàn cảnh như vậy. Tôi chỉ nghĩ rằng, một khi quyết định ở lại
th́ cố gắng làm cái ǵ đó cho đất nước ḿnh.
Thoáng tư lự, ông nói mà cứ như nhủ ḷng: Thật sự ra, người chinh phục
tôi lúc đó chính là anh Sáu Dân (nguyên Thủ tướng Vơ Văn Kiệt). Ảnh
chẳng biết ǵ tôi, tôi cũng chẳng biết ǵ về ảnh, thậm chí nh́n ảnh c̣n
sợ nữa chứ (cười to)! Vậy mà, nghe nói có một tốp thầy cô giáo ngày đi
t́m đá vôi, tối làm pḥng thí nghiệm đến khuya, anh Sáu liền ra vườn
chặt quầy chuối gửi cho chúng tôi. Nhiêu đó thôi cũng làm tôi cảm động.
Sau này mối thâm giao đậm đà hơn, những chuyện gia
đ́nh riêng của tôi, anh Sáu Dân cũng giúp đỡ. Tôi vẫn thường nói, lúc đó
tôi không biết nhà nước cách mạng thế nào, nhưng rơ ràng tôi nh́n thấy ở
anh Sáu một cái ǵ rất thân thiện, trong sáng. Có thể tôi gặp duyên may
chăng!
Rồi những ngày ông và tiến sĩ Trần Kim Thạch cùng với bộ đội bên Quân
khu 7 đi t́m đá vôi. Lúc đó t́nh h́nh miền Nam chưa yên lắm, chuyện đi
lại c̣n khó khăn và nguy hiểm. Có những lúc ông chứng kiến chiếc máy cày
đi trước nổ tung v́ vướng ḿn c̣n sót lại sau chiến tranh.
Thế là để bảo vệ sự an toàn cho các nhà khoa học, bộ
đội đi trước ḍ ḿn, ông và nhóm nghiên cứu bước lần theo sau. Kư ức của
những ngày gian khổ ấy, theo ông - khó mà quên cho được! Và nó cho ông
hiểu ra một chân lư: “Hăy biết mở rộng ḷng ḿnh, sẽ có lúc nhận được
những lời đáp đầy bất ngờ!”.
2. Nói lên nỗi băn khoăn của ḿnh giữa “nỗi buồn” và
“nụ cười” của ông, khi đề cập đến chuyện nghiên cứu khoa học, tôi hỏi:
Phải chăng đó là nụ cười mang vị đắng? Ông trả lời:
- “Tôi làm khoa học, cái ǵ cũng phải đàng hoàng, nghiêm túc. Nhưng
trong hoàn cảnh, cơ chế tài chánh hiện nay, bắt buộc người làm khoa học
khi quyết toán đề tài là phải nói láo. Nhiều nói láo và bịa quá. Tại sao
tôi phải nói láo để được hưởng cái phần lẽ ra tôi phải được hưởng? Cái
cơ chế quản lư khoa học, biết chắc rằng nhà khoa học phải nói láo, vậy
mà vẫn cứ tồn tại. Phải chăng vô h́nh trung, đó là coi nhẹ khoa học và
không coi trọng người làm khoa học?
Dù khởi đầu cuộc tṛ chuyện, ông luôn than - thôi nói măi mà có sửa đâu!
Nhưng, khi đi sâu vào vấn đề cơ chế, nỗi bức xúc trong ông lại có dịp
tuôn ra: “Không chỉ chuyện tiền bạc đâu, c̣n nhiều chuyện trong quản lư
khoa học khiến tôi cảm thấy ḿnh bị đụng chạm”.
Và ông kể: “Hiện nay, một thầy giáo hướng dẫn nghiên cứu sinh lại không
được ở trong hội đồng khi tṛ của ḿnh bảo vệ đề tài, phải ở bên lề, ai
hỏi ḿnh th́ hỏi, ai không hỏi th́ thôi. Xem ra có vẻ vô tư, nhưng đối
với thầy hướng dẫn th́ đó là sự không tin tưởng. Bất quá, ông thầy có vô
hội đồng th́ cũng chỉ có một phiếu, làm sao khống chế được cả hội đồng!?
Hay là chuyện sau khi bảo vệ luận văn ở cơ sở rồi, ra tới Bộ c̣n phải
phản biện kín. Thật chua xót, khi lănh đạo Bộ không tin cả tập thể người
thầy và cả hiệu trưởng đại học – người được Bộ chỉ định. Thật ra có kín
ǵ đâu, nó hở tùm lum cả! Nhiều khi phải “cơm ghe bè bạn” này kia để…
giải quyết!
Chưa hết đâu, lúc tôi c̣n làm Giám đốc Trung tâm Phân tích và Thí nghiệm
TPHCM, tôi có nói với nhiều thầy ở các trường đại học cứ gửi người qua,
trung tâm sẽ đào tạo miễn phí nhưng rồi cũng không có nhiều người được
gửi qua. Tôi thật không rơ hết tất cả những lư do, nhưng phải chăng có
một lư do là giải quyết được một phần cho thầy tiêu chuẩn: hướng dẫn bao
nhiêu người, bao nhiêu bài báo… để được phong giáo sư, phó giáo sư… Nếu
là như thế th́ rất dễ thông cảm nhưng cũng chính v́ cái thông cảm ấy, mà
thấy buồn buồn v́ điều ấy ảnh hưởng rất lớn đến việc hợp tác trong
nghiên cứu mà vào thời điểm này chỉ có như vậy mới tạo được những chuyển
biến lớn về khoa học và công nghệ trong phục vụ đất nước. Măi đến nay
vẫn chưa có những chế định ràng buộc hợp tác giữa trường đại học và viện
nghiên cứu mà tôi cho là tối cần thiết để sử dụng hết chất xám và phương
tiện của nhau.
Nói vậy, rồi ông lại chép miệng: thôi, nhiều chuyện lắm, nói măi mà có
sửa đâu!
3. Không đến nỗi ảo tưởng, song trong tâm khảm mỗi
người dân TPHCM đều hiểu rằng, lực lượng trí thức, khoa học của thành
phố này không hề nhỏ và cũng không hề dở. Thế nhưng, v́ sao dấu ấn của
họ trên con đường phát triển của thành phố lại không tương xứng? Nguyên
nhân vướng mắc chỗ nào? Chia sẻ cùng tôi ư nghĩ này, ông đáp:
- “Thành phố này rất năng động, đă và đang đầu tư nhiều cho nghiên cứu
khoa học, thế mà bây giờ nh́n lại kết quả vẫn chưa được như mong muốn,
cả về phía lănh đạo cũng như về phía anh chị em trí thức. Buồn chứ! H́nh
như hai bên chưa đủ độ tin cậy lẫn nhau”.
Nên mới có chuyện: trong vấn đề nước bẩn của thành phố chẳng hạn - Các
nhà khoa học ta cứ nói, cứ làm, c̣n để chắc ăn th́ thành phố mời mấy nhà
khoa học Pháp qua giải quyết. Thực ra những nhà khoa học của Liên hiệp
các Hội Khoa học và Kỹ thuật TPHCM đă bước đầu xác định khá rơ vi khuẩn
sắt và mangan là nguyên nhân của nước bị nhiễm bẩn rồi.
Vâng, tôi cũng nghĩ như ông. Chính v́ “thiếu hiểu biết chung” giữa nhà
khoa học và nhà quản lư, mà mọi sự đầu tư vào nghiên cứu khoa học cũng
như một số chương tŕnh phát triển của thành phố khá tốn kém, nhưng hiệu
quả mang lại đang tiếp tục gây nhiều bàn căi trong giới trí thức, khoa
học.
Không chỉ riêng ông, mà rất nhiều nhà khoa học đă đặt
vấn đề: Lúc nào chúng ta cũng hô hào chung chung là đi vào công nghệ
cao. Rồi nào là công nghệ vật liệu mới, rồi công nghệ sinh học, tự động
hóa… Nhưng, cụ thể trong t́nh h́nh đất nước ḿnh hiện nay, cái ǵ là
công nghệ cao? Cái ǵ là vật liệu mới? Cái ǵ của công nghệ sinh học mà
ḿnh có thể làm?... Tất cả h́nh chưa có câu trả lời thỏa đáng.
- Đâu là “slogan” của ông để giải quyết vấn đề?
- Đơn giản là “Hăy thực ḷng ngồi lại với nhau v́ đất nước này”. Các nhà
khoa học và nhà lănh đạo các cấp ngành phải ngồi lại với nhau. Đặt hết
lên bàn, nói thẳng với nhau: đây, thành phố đang khó khăn thế này, cần
đi lên thế này, để cùng nhau bàn bạc, vạch cho được hướng ra cụ thể,
cũng như bước đi của từng giai đoạn. Có thế, các nhà khoa học mới biết
ḿnh phải tập trung nghiên cứu những nội dung ǵ mà thành phố đang nhắm
vào. Trên cơ sở đó, những đồng tiền nghiên cứu khoa học, nên được sử
dụng tập trung vào một số đề tài có tầm cỡ lớn, có thể tạo ra những “cú
đấm”, tạo bước ngoặt cho phát triển thành phố. C̣n những chuyện cần
nghiên cứu ứng dụng nhỏ hơn cho sản xuất, th́ các đơn vị sản xuất phải
bỏ tiền vào. Có vậy, giữa khoa học và sản xuất mới tiếp cận nhau hơn,
hiểu nhau hơn th́ đề tài nghiên cứu khoa học mới sát sườn với cuộc sống,
và sẽ tạo ra sản phẩm hiện thực hơn. Mặt khác, chính mối hợp tác gắn bó
này sẽ tạo ra kinh phí nghiên cứu khoa học, điều mà Nhà nước không thể
nào ôm xuể.
…
Bây giờ nghỉ hưu, ông đă ra làm tư nhưng vẫn tiếp tục công việc làm
trước đây, tương đối không c̣n bị ràng buộc bởi những cơ chế “khắc
nghiệt và phương thức quản lư khoa học chưa thật hợp lư” – ông nói với
vẻ khá thoải mái: “Làm cố vấn chuyên môn ở Trung tâm Đào tạo và Phát
triển Sắc kư, tôi cảm thấy thơi thới hơn nhiều lắm”.
Ông đang tự sử dụng ḿnh, tiếp tục “kiếp tằm” nhả những “sợi tơ” khoa
học cho đời! Song, phần ḿnh, tôi vẫn bần thần, khi nhớ tới lời ông tâm
sự: “Tôi không dám đăng kư nhận những công tŕnh nghiên cứu lớn của Nhà
nước, v́ sợ khâu quyết toán tài chính lắm rồi!”. Phải chăng v́ cơ chế,
chúng ta đang lăng phí không chỉ một nhà nghiên cứu khoa học ở độ chín
mùi?
MAI LAN