Biển Đông với Hoàng Sa, Trường Sa và Vịnh Bắc Việt là
một vấn đề rối mù. Rối mù về địa lư, về pháp lư và nhất
là do chiến thuật hỏa mù của Trung Quốc. Do đó, chúng ta
cần tŕnh bày vấn đề minh bạch và đơn giản.
*Hoàng Sa gồm 13 đảo san hô
tí hon tại các vĩ tuyến 17-15 Bắc, phía đông Quảng Trị,
Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi.
*Trường Sa với 9 đảo nhỏ
hơn nữa tại các vĩ tuyến 12-7 Bắc, dọc từ Cam Ranh về
Nam Cà Mau. Có khoảng 500 đảo, cồn, đá, băi nằm rải rác
trên biển cả, từ Việt Nam qua Phi Luật Tân, không có
thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế. Trong số
này chỉ có hơn 50 đơn vị có địa danh, gồm 28 cao địa và
hơn 20 đơn vị đá ch́m và băi ngầm.
a) Từ 1974 Trung Quốc chiếm toàn thể
HOÀNG SA gồm 13 đảo:
7 đảo phía Đông Bắc thuộc Nhóm Tuyên Đức (Amphitrite)
trong đó có Đảo Phú Lâm (Woody Island) h́nh bầu dục,
diện tích 1.3km2. Nếu là h́nh chữ nhật, bề dài có thể là
1300m và bề ngang 1000m (bằng một công viên nhỏ). Phú
Lâm là đảo lớn nhất tại Hoàng Sa và Trường Sa.
6 đảo phiá Tây Nam thuộc Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent),
trong đó có Đảo Hoàng Sa (Pattel) rộng 0.56km2 bằng 1/2
Phú Lâm và bằng 1/1000 Phú Quốc (568 km2).
b) Vùng biển TRƯỜNG SA bao
la (180.000 dậm vuông) rộng gấp 10 lần
HOÀNG SA , nhưng chỉ có 9
tiểu đảo.
Việt Nam chiếm 3 đảo: Trường Sa (Spratley), Nam Yết
(Namyit) và Sinh Tồn (Sincowe).
Phi Luật Tân chiếm 5 đảo: B́nh Nguyên (Flat), Vĩnh Viễn
(Nanshan), Bến Lộc (West York), Loại Tá (Loaita) và Thị
Tứ (Thitu).
Đài Loan chiếm Đảo Thái B́nh (Itu Aba).
Đảo Trường Sa diện tích 0.13km2, bằng 1/10 Phú Lâm.
Có tin mới đây Đài Loan đă rút quân khỏi Đảo Thái B́nh,
ḥn đảo lớn nhất tại Trường Sa.
Ngoài 3 đảo, Việt Nam c̣n chiếm 3 cồn (cay) là An Bang
(Amboyna), Song Tử Tây (SouthWest) và Sơn Ca (Sand),
cùng 7 đá nổi, 9 đá ch́m và băi ngầm, tổng cộng 22 đơn
vị.
Ngoài 5 đảo, Phi Luật Tân c̣n chiếm 3 cồn , 2 đá nổi và
8 đá ch́m, tổng cộng 18 đơn vị.
Trung Quốc chiếm 2 đá nổi (reef) là Đá Chữ Thập (Fiery
Cross) và Đá Ga Ven (Gaven), cùng 6 đá ch́m, tổng cộng 8
đơn vị.
Câu hỏi đặt ra là: Tại sao từ 1974 khi Trung Quốc chiếm
toàn thể Hoàng Sa, và nhất là từ 1988 khi xâm lấn Trường
Sa, họ lại không thừa thắng xông lên để chiếm thêm một
số hải đảo mà phải lấy một ḥn đá (Đá Chữ Thập) làm địa
điểm chỉ huy ?
Thực ra Trung Quốc chỉ muốn thương thảo song phương với
các quốc gia duyên hải về phương thức khai thác chung
dầu khí tại thềm lục địa (không phải của họ).
VỀ PHÁP LƯ
Địa cầu gồm 3 phần đất và 7 phần nước. Nếu có luật quốc
tế cho các lănh thổ th́ cũng phải có Luật Biển cho vùng
lănh hải. Năm 1982, 119 quốc gia kư Công Ước Liên Hiệp
Quốc về Luật Biển (Law of the Sea Convention hay Los
Convention) trong đó có Trung Quốc và Việt Nam.
Sau đây là định nghĩa về biển lịch sử, đường căn bản,
biển lănh thổ, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, hải
đảo và quần đảo.
1. Biển Lịch Sử ( historic waters).
Theo Toà Án Quốc Tế và Điều 8 Luật Biển, biển lịch sử là
nội hải nằm về phía đất liền, bên trong đường căn bản
của biển lănh thổ. Như vậy biển lịch sử không thể là Nam
Hải cách lục địa Trung Hoa tới 2 000 cây số.
2. Đường căn bản (baselines) là lằn nước thủy triều
xuống thấp.
3. Biển lănh thổ (territorial sea) rộng 12 hải lư tính
từ đường căn bản ra khơi.
4. Nối tiếp biển lănh thổ 12 hải lư là Vùng Đặc Quyền
Kinh Tế 200 hải lư để đánh cá. (Exclusive Economic Zone,
200-mile-fishery zone).
5. Vùng Đặc Quyền Kinh Tế trùng điệp với Thềm Lục Địa
(Continental Shelf) 200 hải lư để khai thác dầu khí.
Thềm lục địa thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia
duyên hải trong việc khai thác dầu khí. Quyền này không
tùy thuộc vào điều kiện chiếm cứ (occupation) hay công
bố (declaration) (Điều 77). Do đó việc Trung Cộng chiếm
đóng một số đảo, đá, băi tại Hoàng Sa và Trường Sa không
có tác dụng tước đọat chủ quyền của Việt Nam tại thềm
lục địa.
6. Hải đảo và quần đảo
Các hải đảo (như Đài Loan hay Tích Lan) được quyền có
biển lănh thổ 12 hải lư, và quy chế vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa 200 hải lư. Tuy nhiên, các tiểu đảo
không có thường dân cư ngụ và không tự túc về kinh tế
(như Hoàng Sa,Trường Sa) không được hưởng quy chế này.
(Điều 121).
Trong án lệ Lybia/Malta (l985) Ṭa án không đồng hóa đảo
Malta với lục địa, dầu rằng Malta có 350 ngàn dân cư ngụ
trên một diện tích 122 dậm vuông.
Theo định nghĩa, quần đảo bao gồm các hải đảo nằm san
sát bên nhau và có diện tích ít nhất bằng 1/9 vùng biển
nơi tọa lạc (như các quần đảo Nam Dương hay Phi Luật
Tân).
Như vậy:
1) Hoàng Sa, Trường Sa không phải là "quần đảo" luật
định v́ có diện tích quá nhỏ (4 dặm vuông) trong một
vùng biển bao la (180 ngàn dặm vuông).
2) Các tiểu đảo (trên 20 ḥn) tại Hoàng Sa Trường Sa
không phải là "đảo" luật định, và không được hưởng quy
chế 200 hải lư để đánh cá và khai thác dầu khí.
ĐẤU LƯ VÀ ĐẤU
PHÁP
Năm l982 với tư cách một ngũ cường, Trung Hoa
hoan hỉ kư Công Ước về Luật Biển. Kư xong, Bắc Kinh mới
thấy lo! Những điều khỏan trong Công Ứóc đă quá rơ rệt.
Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế 200 hải lư
vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa kể từ biển lănh
thổ.
Trong khi đó
Trường Sa cách lục địa Trung Hoa khoảng 750 hải lư, nên
không nằm trong thềm lục địa của Trung Hoa. Hoàng Sa
cũng cách Hoa Lục lối 270 hải lư.
Tại bờ biển Việt Nam, thềm lục địa chạy thoai
thoải từ dăy Trường Sơn ra Hoàng Sa.Về địa h́nh, Hoàng
Sa là một hành lang của Trường Sơn từ Cù Lao Ré ra khơi.
Đây là những b́nh nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên
mặt biển. Năm 1925, nhà địa chất học quốc tế Tiến Sĩ
Khoa Học A. Krempf, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương,
sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc đă lập phúc tŕnh và kết
luận: "VỀ MẶT
ĐIA CHẤT, NHỮNG ĐẢO HOÀNG SA LÀ THÀNH PHẦN CỦA VIỆT NAM"
(Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).
Tại Trường Sa cũng vậy. Về độ sâu và địa h́nh đáy biển,
các đảo cồn đá băi Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của
thềm lục địa Việt Nam. Tại băi Tứ Chính , nơi khai thác
dầu khí, biển sâu không tới 400m, và tại vùng đảo Trường
Sa độ sâu chỉ tới 200m. Băi Tứ Chính cách bờ biển Việt
Nam khoảng 190 hải lư và cách lục địa Trung Hoa tới 780
hải lư. Trường Sa cách Việt Nam 220 hải lư và cách Hoa
Lục 750 hải lư. Từ Trường Sa về bờ biển Trung Hoa có
rănh biển sâu hơn 4.600m.
Bị ràng buộc bởi
Luật Biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200
hải lư, Trung Hoa tung ra CHIẾN DỊCH HỎA MÙ, gây
bất ổn, tranh chấp lung tung, thao diễn, phóng hỏa tiễn,
lấn chiếm bừa băi tại miền bờ biển để gây tiếng vang.
Mục đích để phá rối an ninh trật tự, làm cản trở giao
thông trên mặt biển, tạo áp lực, hù dọa và khuyến dụ các
quốc gia Đông Nam Á hăy tạm gác vấn đề tranh chấp chủ
quyền hải đảo để cùng nhau KHAI THÁC DÂÙ KHÍ CHUNG TẠI
THỀM LỤC ĐỊA VÀ ĐÁNH CÁ CHUNG TẠI VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH
TẾ.
BIỂN LICH SỬ: THỦ ĐẮC CHỦ
QUYỀN DO KHÁM PHÁ
Năm 1982, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả, ngày đêm
nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận rằng
Nam Hải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa Biển Lịch Sử hay
Lưỡi Rồng Trung Quốc nằm sát bờ biển Việt Nam, cách
Quảng Ngăi 40 hải lư, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải lư,
và cách Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lư. Nó chiếm trọn
3 tuí dầu khí: Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna
của Nam Dương và Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi Luật Tân
Trung Quốc đưa ra nhiều tài liệu lịch sử để chứng minh
rằng từ đời Hán Vũ Đế 100 ngàn hải quân Trung Hoa đi
tuần thám đă khám phá các đảo Nam Hải. Sự khám phá này
được tiếp tục dưới đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh và
nhà Thanh.
Những tài liệu lịch sử này không
đáng tin cậy:
1. Chính sách bế quan tỏa cảng.
Suốt chiều dài
lịch sử, Trung Hoa không bao giờ chủ trương chinh phục
đại dương. Thuyết bế quan tỏa cảng được áp dụng
từ đời nhà Tần (thế kỷ thứ 3 trước công nguyên). Vạn Lư
Trường Thành không chỉ là một kiến trúc mà c̣n là một
nhân sinh quan. Miền bờ biển được coi là nơi hoang vu
man rợ. Đảo Hải Nam là chốn lưu đày các tù nhân biệt xứ.
Cho đến thế kỷ 20, chính sách bế quan tỏa cảng vẫn được
thi hành.
Với tâm lư tự cô
lập, không thể có 100 ngàn quân Trung Hoa đời Tây Hán đi
khám phá các đảo san hô tí hon tại Nam Hải. Rất
có thể đó chỉ là 10 vạn quân của Tào Tháo mượn lệnh Hán
Đế đi xâm chiếm Đông Ngô và đă bị Chu Du đánh tan trong
trận Xích Bích.
Các chuyến hải hành đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh,
và nhà Thanh chỉ là những cuộc nam chinh nhằm thôn tính
Việt Nam. Lịch sử đă ghi việc Lê Đại Hành phá tan thủy
binh của Lưu Trừng nhà Tống, quân Trần Hưng Đạo bắn chết
Toa Đô và bắt sống Ô Mă Nhi nhà Nguyên, Lê Lợi đánh bại
hải quân tiếp viện cho Vương Thông nhà Minh, và Quang
Trung phá tan hải quân của đề đốc Hứa Thế Hanh nhà
Thanh. Việc các thủy binh đời Minh Thành Tổ đi thăm
viếng các quốc gia Á Châu nếu có, cũng không có tác dụng
thủ đắc chủ quyền tại các hải đảo. Từ thế kỷ l5, các nhà
thám hiểm Bồ Đào Nha như Vasco de Gama và Magellan đă đi
xuyên 3 đại dương từ Đại Tây Dương, vượt Ấn Độ Dương qua
Thái B́nh Dương, khám phá hàng ngàn hải đảo kể cả Phi
Luật Tân và Guam. Nhưng Bồ Đào Nha cũng không đ̣i chủ
quyền các hải đảo này.
2. Danh xưng Nam Hải.
Theo chính các học giả Trung Hoa, Nam Hải là tên biển
của Hoa Nam, cách Quảng Đông 50 dậm về phía Nam. Các nhà
hàng hải Tây Phương muốn cho tiện nên gọi đó là Biển Nam
Hoa (South China Sea) (ngọai nhân xưng Nam Trung Quốc
Hải).
Theo Tự Điển Tối Tân Thực Dụng Hán Anh xuất bản tại Hồng
Kông năm 1971 th́ "Nam Hải là vùng biển kéo dài từ Eo
Biển Đài Loan đến Quảng Đông". (The Southern Sea
stretching from the Taiwan Straits to Kwantung.)
Theo Từ Điển Từ Hải xuất bản năm 1948, th́ Nam Hải thuộc
chủ quyền hải phận chung của 5 nước là Trung Hoa, Việt
Nam, Mă Lai, Phi Luật Tân và Đài Loan.
DO ĐÓ NAM HẢI
KHÔNG PHẢI LÀ BIỂN CỦA TRUNG HOA VỀ PHÍA NAM. CŨNG NHƯ
ẤN ĐỘ DƯƠNG KHÔNG PHẢI LÀ ĐẠI DƯƠNG CỦA ẤN ĐỘ.
Năm 1983, Trung Quốc vẽ lại bản đồ, đ̣i chủ quyền hải
phận toàn thể vùng biển Đông Nam Á. Họ coi Nam Hải là
một thứ nội hải theo kiểu Đế Quốc La Mă coi Địa Trung
Hải là biển của chúng tôi (Mare Nostrum).
3. Luật pháp và án lệ.
Theo Ṭa Án Quốc Tế, biển lịch sử chỉ là nội hải. Hơn
nữa, Điều 8 Công Ước về Luật Biển (l982) đă kết thúc mọi
cuộc tranh luận khi quy định:
"Biển lịch sử
hay nội hải của một quốc gia nằm về phía đất liền, bên
trong đường căn bản của biển lănh thổ" [The
International Court of Justice has defined historic
waters as internal waters. "Waters on the landward side
of the baseline of the territorial sea form part of the
internal waters of the State" Art.8 Los Convention
(1982)].
Như vậy Nam Hải
không phải là Biển Lịch Sử của Trung Hoa, v́ nó là ngoại
hải và cách bờ biển Trung Hoa tới hai ngàn cây số.
Và công tŕnh 10
năm nghiên cứu của 400 học giả Trung Quốc chỉ là công
"dă tràng xe cát Biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công
cán ǵ!"
THỦ ĐẮC CHỦ QUYỀN DO CHIẾM CỨ
Theo công pháp quốc tế, muốn thủ đắc chủ quyền
các đất vô chủ (terra nullius), sự chiếm cứ phải có
những đặc tính sau đây:
a) Chiếm cứ thực sự
Tại Trường Sa trong số 28 cao địa, Trung Hoa chỉ chiếm 2
đá nổi, trong khi Việt Nam chiếm 13. Và trong hơn 50 đơn
vị có địa danh, Trung Hoa chỉ chiếm 8, so với 22 của
Việt Nam.
b) Chiếm cứ ḥa b́nh.
Trong những năm 1974 và 1988 Trung Hoa dùng vơ trang
chiếm Hoàng Sa và một số đá, băi tại Trường Sa. Tuy
nhiên sự chiếm cứ không có tính ḥa b́nh nên không được
luật pháp bảo vệ. Cũng như thời Đệ Nhị Thế Chiến, Nhật
Bản chiếm Hoàng Sa và Trường Sa bằng vơ lực nên không có
chủ quyền hợp pháp.
c) Chiếm cứ liên tục và trường kỳ
Không có sự phủ nhận rằng ít nhất từ 1816, dưới đời vua
Gia Long, Việt Nam đă chiếm cứ công khai, liên tục, ḥa
b́nh các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bia chủ quyền do
người Pháp dựng năm 1938 có ghi rơ:
République Francaise (Cộng Ḥa Pháp)
Empire d'Annam (Vương Quốc Việt Nam)
Archipel des Paracels (Quần Đảo Hoàng Sa)
1816 -Ile de Pattle 1938 (Đảo Hoàng Sa)
Lịch sử Trung Hoa không mang lại bằng chứng nào cho biết
họ đă liên tục chiếm cứ Hoàng Sa, Trường Sa từ đời Hán
Vũ Đế hay ít nhất từ đời Măn Thanh.
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, khi quân đội Nhật Bản rút lui,
Trung Hoa chiếm một phần Hoàng Sa (Nhóm Tuyên Đức phía
Đông Bắc). Năm 1974 họ dùng vơ trang chiếm nốt Nhóm
Nguyệt Thiềm phía Tây Nam. Tại Trường Sa lần đầu tiên,
năm l988, họ chiếm một số đá, băi bằng vơ lực. Sự chiếm
cứ này vô hiệu v́ không có tính ḥa b́nh. Vả lại tới
l974 và l988 các đảo Hoàng Sa-Trường Sa đă do Việt Nam
chiếm đóng, nên không thể coi là đất vô chủ (terra
nullius).
d) Hơn nữa sự chiếm cứ phải được thừa nhận bởi các quốc
gia liên hệ.
1) Năm 1951 tại Hội Nghị Cựu Kim Sơn, 51 quốc gia đồng
minh kư Hiệp Ước Ḥa B́nh Nhật Bản trong đó Nhật Bản từ
bỏ chủ quyền về Hoàng Sa Trường Sa, nhưng không nói để
trả cho nước nào. Đại biểu Liên Xô yêu cầu Hội Nghị biểu
quyết trả cho Trung Hoa. Nhưng Hội Nghị đă bác bỏ thỉnh
cầu này với 46 phiếu chống. Sau đó phái đ̣an Việt Nam
lên diễn đàn minh thị công bố chủ quyền của Việt Nam đối
với Hoàng Sa Trường Sa, và không gặp sự phản kháng nào.
2) Sự thừa nhận chỉ có nghĩa nếu xuất phát từ các quốc
gia duyên hải liên hệ. V́ các đảo này tọa lạc tại Biển
Đông Nam Á, nên chỉ các quốc gia Đông Nam Á mới có thẩm
quyền thừa nhận. Mà cho đến nay tất cả các quốc gia Đông
Nam Á không nước nào thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa
tại Hoàng Sa Trường Sa.
3) Tuy nhiên Bắc Kinh c̣n viện dẫn văn thư ngày
14-9-1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi Thủ Tướng Chu
Ân Lai để chủ trương rằng Việt Nam đă thừa nhận chủ
quyền của Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Về mặt pháp lư sự thừa nhận này vô giá trị. V́ Trường Sa
Hoàng Sa thuộc lănh hải Việt Nam Cộng Ḥa. Vấn đề lănh
thổ và lănh hải thuộc thẩm quyền của quốc dân do quốc
hội đại diện, chứ không thuộc hành pháp là cơ quan chấp
hành luật pháp của quốc hội. Vả lại Quốc Hội Việt Nam
trong những năm 1956 và 1966 đă công bố chủ quyền của
Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Một văn thư của
Chính Phủ Hà Nội năm 1958 không có hiệu lực thừa nhận
chủ quyền các hải đảo thuộc lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa
hồi đó.
THỀM LỤC ĐỊA
Vấn đề thực sự tại Trường Sa Hoàng Sa là vấn đề
thềm lục địa nơi khai thác dầu khí.
Về Trường Sa.
Tại Trường Sa
băi dầu khí Tứ Chính (Vanguard) cách bờ biển Việt Nam
khoảng 190 hải lư và cách bờ biển Trung Hoa lối 780 hải
lư, nên thuộc thềm lục địa Việt Nam.
Về Hoàng Sa.
Hoàng Sa cách bờ biển Trung Hoa khoảng 270 hải lư và
cách bờ biển Việt Nam lối 155 hải lư nên thuộc thềm lục
địa Việt Nam. Khỏang cách từ cù lao Ré (Quảng Ngăi) ra
đảo Tri Tôn chỉ có 123 hải lư. Về mặt địa h́nh đáy biển
Hoàng Sa là sự tiếp nối tự nhiên của dẫy Trường Sơn từ
đất liền chạy ra biển. Có thể nói Hoàng Sa là những b́nh
nguyên của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Chiếu
Luật Biển 1982 quyền của các quốc gia duyên hải tại thềm
lục địa không tùy thuộc vào sự chiếm cứ (Điều 77). Do đó
sự chiếm đóng vơ trang của quân đội Trung Hoa không có
tác dụng tước đoạt chủ quyền của Việt Nam tại thềm lục
địa Hoàng Sa.
CÁC TIÊU CHUẨN:
Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc và Toà Án
Quốc Tế đưa ra 10 tiêu chuẩn để phân ranh hải phận hay
đồng hóa hải đảo vào lục địa:
1) Vị trí của các đảo đối với bờ biển tiếp cận. Tại vùng
Hoàng Sa, đảo Tri Tôn chỉ cách lục địa Việt Nam 135 hải
lư, trong khi đảo Hoàng Sa cách lục địa Trung Hoa tới
270 hải lư.
2) Diện tích các hải đảo so sánh với chiều dài bờ biển
tiếp cận. Đảo Hoàng Sa quá nhỏ bé ( 0.56km2) chỉ bằng
1/1000 đảo Phú Quốc (568km2), trong khi bờ biển Việt Nam
dài gấp 10 lần bờ đảo Hải Nam phía tiếp giáp Hoàng Sa.
3) Về độ sâu và địa h́nh đáy biển, các đảo, cồn, đá, băi
Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên từ lục địa
Việt Nam ra biển. Độ sâu tại Hoàng Sa là 900m và tại
Trường Sa là 200m. Từ Hoàng Sa Trường Sa về Hoa Lục có 2
rănh biển sâu hơn 2300m và 4600m.
4) Về mặt địa chất, sau 2 năm nghiên cứu và đo đạc, năm
1925 Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt xác nhận rằng "Hoàng Sa
là thành phần của Việt Nam ".
5) Về dân số, các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa không có
thường dân cư ngụ, và không thể tự túc về kinh tế. Trong
khi đó số dân cư ngụ tại miền bờ biển Việt Nam đông gấp
mười số dân sinh sống tại đảo Hải Nam.
6) Về sinh thực học và khí hậu tại Hoàng Sa và Trường
Sa, các đảo san hô cũng như cây cỏ và sinh vật tiêu biểu
cho vùng nhiệt đới (Việt Nam ), chứ không thấy ở vùng ôn
đới (Trung Hoa).
7) Về Khu Đặc Quyền Kinh Tế (để đánh cá), Biển Đông (với
Hoàng Sa và Trường Sa) là khu vực đánh cá căn bản của
Việt Nam. Trong khi đó, ngoài hải phận về phía Tây, Đảo
Hải Nam c̣n được thêm 200 hải lư để đánh cá về phía Đông
thông qua Thái B́nh Dương,.
8) Tại thềm lục địa Việt Nam những vùng có dầu khí nằm
giữa Vịnh Bắc Việt và khu băi Tứ Chính phía Đông Nam Cà
Mau. Đây là nơi kết tầng các thủy tra thạch chứa đựng
các chất hữu cơ do nước phù sa sông Hồng Hà và sông Cửu
Long đổ ra biển từ hàng triệu năm nay. Do đó dầu khí nếu
có là do các chất hữu cơ từ lục địa Việt Nam chứ không
phải từ Hoa Lục. Hơn nữa, ngoài hải phận về phía Tây,
Đảo Hải Nam c̣n được 200 hải lư thềm lục địa để khai
thác dầu khí về phía Đông thông qua Thái B́nh Dương.
9) Biển Đông với Hoàng Sa Trường Sa có ảnh hưởng kinh
tế, chiến lược và an ninh quốc pḥng mật thiết với Việt
Nam hơn là Trung Hoa. V́ Trung Hoa c̣n có biển Hoàng Hải
và Đông Trung Quốc Hải chạy thông qua Thái B́nh Dương.
10) Các tài
liệu, sách báo, họa đồ, các chứng tích lịch sử v...v...
phải có tính xác thực. Dầu sao các tài liệu này không có
giá trị bằng các yếu tố khách quan khoa học như địa lư,
địa h́nh, địa chất, dân số, sinh thực học, khí hậu cùng
những yếu tố về ảnh hưởng kinh tế, chiến lược và an ninh
quốc pḥng.
VỀ VỊNH BẮC VIỆT
Vấn đề phân ranh thềm lục địa hay hải phận tại
Vịnh Bắc Việt cũng phải được giải quyết theo 8 tiêu
chuẩn: 1) Vị trí và sự hiện diện của các đảo 2) chiều
dài bờ biển 3) mật độ dân số 4) độ sâu và địa h́nh đáy
biển 5) địa chất 6) vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá 7)
thềm lục địa để khai thác dầu khí 8) ảnh hưởng kinh tế,
chiến lược và an ninh quốc pḥng.
Đây là những
điểm đặc thù ảnh hưởng đến việc phân định lănh hải. Nếu
đưa nội vụ ra trước Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa, Ṭa
Án Trọng Tài hay Ṭa Án Quốc Tế, Việt Nam sẽ có ưu thế.
KẾ HOẠCH THÔN TÍNH BIỂN ĐÔNG CỦA
TRUNG QUỐC
Theo Công Ước về Luật Biển, các quốc gia duyên hải chỉ
có 200 hải lư, vừa là vùng đặc quyền kinh tế để đánh cá,
vừa là thềm lục địa để khai thác dầu khí. Trong khi đó
Hoàng Sa tọa lạc ngoài lục địa Trung Hoa khoảng 270 hải
lư, và Trường Sa cách Hoa Lục lối 750 hải lư, nên không
thuộc hải phận của Trung Quốc.
Đuối lư về pháp luật, Trung Quốc đưa ra thuyết Biển Lịch
Sử để đ̣i chủ quyền toàn vùng Nam Hải.
Tuy nhiên Ṭa Án Quốc Tế và Công Ước Liên Hiệp Quốc Về
Luật Biển đă bác bỏ thuyết này.
Thất bại trong thuyết Biển Lịch Sử, Trung Quốc đề ra kế
hoạch 4 bước để thôn tính Biển Đông về kinh tế:
1) Kư Hiệp Ước Vịnh Bắc Bộ để hủy bỏ Hiệp Ước Bắc Kinh (theo
đó Việt Nam được 63% hải phận và Trung Hoa được 37%).
Nếu theo đường trung tuyến, Việt Nam sẽ được 53%. Tuy
nhiên trên thực tế, phe Cộng Sản không theo đường trung
tuyến và đă đưa ra 21 điểm phân định theo đó Việt Nam
chỉ c̣n 45%.
2) Kư Hiệp Ước Hợp Tác Nghề Cá để thiết lập Vùng Đánh Cá
Chung rộng 61 hải lư. Và trên thực tế Việt Nam chỉ c̣n
25% tại vĩ tuyến 17 và 32% tại vĩ tuyến 20. Với các tầu
đánh cá lớn trọng tải trên 100 tấn, với các lưới cá dài
50 hải lư, và nhất là với sự đồng lơa cấu kết của đội
tuần cảnh duyên hải, toàn thể Vịnh Bắc Việt sẽ biến
thành khu vực đánh cá tự do cho đội ḱnh ngư Trung Quốc
mặc sức tận thu, vét sạch, và cạn tầu ráo máng.
3) Từ đánh cá chung đến hợp tác khai thác dầu khí chỉ
c̣n một bước. Trong Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có điều khoản
quy định rằng, khi dầu khí được phát hiện, hai bên sẽ
khởi sự hợp tác khai thác dầu khí.
Ngày nay tại Vịnh Bắc Việt, Trung Quốc đề ra nhiều dự án
thăm ḍ và khai thác dầu khí, như "Dự Án Quỳnh Hải" phía
Tây đảo Hải Nam và "Dự Án Vịnh Bắc Bộ" phía Bắc vĩ tuyến
20. (Khi dùng danh xưng "Vịnh Bắc Bộ", Trung Quốc mặc
nhiên nh́n nhận đó là Vịnh của Việt Nam về phía Bắc. V́
nếu là củaTrung Quốc th́ phải gọi là Vịnh Nam Bộ mới
đúng địa lư).
4) Với chính sách vết dầu loang, sau khi hoàn thành kế
hoạch hợp tác đánh cá và khai thác dầu khí chung tại
Vịnh Bắc Việt, hai bên sẽ tiến tới việc hợp tác đánh cá
và khai thác dầu khí chung tại miền duyên hải Trung và
Nam Việt. Điều đáng lưu ư là vùng lănh hải này thuộc khu
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam nên thuộc
chủ quyền tuyệt đối của Việt Nam.
Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, Bắc Kinh buộc Hà Nội
hiến dâng toàn thể lănh hải Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt
đến miền duyên hải Trung và Nam Việt tại Hoàng Sa Trường
Sa theo lời cam kết của Hồ Chí Minh (Phạm Văn Đồng chỉ
là kẻ thừa sai, bất lực, không có cả quyền bổ nhiệm một
thứ trưởng theo lời tự thú của đương sự).
Như vậy, thuyết Biển Lịch Sử từng bị Ṭa Án Quốc Tế và
Công Ước về Luật Biển bác bỏ, nay lại có cơ hội trở
thành hiện thực do kế hoạch 4 bước của Trung Quốc để
thôn tính Biển Đông.
XÂM LẤN VÀ THÔN TÍNH
Sau đây là tiến tŕnh xâm lấn và thôn tính Biển
Đông của Trung Quốc trong 60 năm qua.
Năm 1945, sau Thế Chiến II, quân đội Trung Hoa giải giới
quân đội Nhật đă thừa cơ chiếm cứ các đảo Hoàng Sa thuộc
nhóm Tuyên Đức.
Năm 1946 Trung Hoa đổi tên vùng biển Nam Hải thành Đặc
Khu Hành Chánh Hải Nam, và đổi tên Hoàng Sa thành Tây Sa
và Trường Sa thành Nam Sa.
Năm 1956, để phát động chiến tranh vơ trang thôn tính
Miền Nam, Hà Nội phải trông cậy vào sự yểm trợ của Bắc
Kinh. V́ sau cái chết của Stalin năm 1953, Liên Xô muốn
chuyển sang đường lối Chung Sống Ḥa B́nh. Trong khi đó
Mao Trạch Đông vẫn chủ trương "giải phóng 1000 triệu con
người Á Châu khỏi ách Đế Quốc Tư Bản".
Theo luật vay trả, muốn được cưu mang yểm trợ, phải có
sự cam kết đền ơn trả nghĩa.
Ngày 15-6-1956, Ngoại Trưởng Ung Văn Khiêm minh thị
tuyên bố:
"Hà Nội nh́n nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa
và Trường Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa".
Ngày 14-9-1958 do văn thư của Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân
Lai,
Hồ Chí Minh, Chủ Tịch Đảng, Chủ Tịch Nước, xác nhận chủ
quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Để biện minh cho lập trường của Hồ Chí Minh và Phạm Văn
Đồng, một tháng sau khi Trung Quốc tiến chiếm Trường Sa,
báo Nhân Dân, cơ quan chính thức của Đảng Cộng Sản,
trong số ra ngày 26-4-1988 đă viết: "Trong cuộc chiến
đấu chống kẻ thù xâm lược th́ Việt Nam phải tranh thủ sự
gắn bó của Trung Quốc, và ngăn chặn Hoa Kỳ sử dụng hai
quần đảo nói trên".
Và hồi tháng 5-1976, báo Saigon Giải Phóng trong bài
b́nh luận việc Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vơ lực năm
1974, đă viết: "Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không
chỉ là người đồng chí, mà c̣n là người thầy tin cẩn đă
cưu mang chúng ta nhiệt t́nh để chúng ta có ngày hôm
nay. V́ vậy chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc
Trung Quốc cũng vậy thôi !".
Có 3 lư do được viện dẫn cho lời cam kết của Hồ Chí Minh
năm 1958:
a) V́ Hoàng Sa, Trường Sa tọa lạc tại các vĩ tuyến 17-7
(Quảng Trị-
Nam Cà Mâu) nên thuộc hải phận Việt Nam Cộng Ḥa. Đối
với Hà Nội nhượng Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc
trong thời điểm này chỉ là bán da gấu!
b) Sau này, do những t́nh cờ lịch sử, nếu Bắc Việt thôn
tính được Miền Nam th́ mấy ḥn đảo san hô tại Biển Đông
đâu có ăn nhằm ǵ so với toàn thể lănh thổ Việt Nam?
c) Giả sử cuộc "giải phóng Miền Nam" không thành, th́
việc Trung
Quốc chiếm Hoàng Sa Trường Sa thuộc lănh hải Việt Nam
Cộng Ḥa cũng có tác dụng làm suy yếu phe quốc gia về
kinh tế, chiến lược và an ninh quốc pḥng.
Năm 1972, sau thất bại Tết Mậu Thân (1968), để phát động
chiến dịch Tổng Tấn Công Xuân Hạ hay Mùa Hè Đỏ Lửa, Hà
Nội huy động toàn bộ các sư đoàn chính qui vào chiến
trường Miền Nam. Để bảo vệ an ninh quốc ngoại chống sự
phản kích của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa và Hoa Kỳ (như
trong Chiến Tranh Triều Tiên), Hà Nội đă nhờ 300 ngàn
quân Trung Quốc mặc quân phục Việt Nam đến trú đóng tại
6 tỉnh biên giới Bắc Việt.
Trong thời gian này, với thế thượng phong của người thầy
cưu mang (và với sự ưng thuận mặc nhiên của Bắc Việt)
Trung Quốc tự tiện ấn định Vùng Biển Cấm (Hands-Off
Area) tại Vịnh Bắc Việt, cấm ngư dân Việt Nam không được
lai văng. Đây là vùng biển sâu giữa Vịnh có nhiều cá lớn
và nhiều tiềm năng dầu khí.
Vùng Biển Cấm diện tích 7200 hải lư vuông, rộng 60 hải
lư (1 kinh độ) từ kinh tuyến 107 Đông (phía Việt Nam)
tới kinh tuyến 108 Đông (phía Hải Nam), và dài 120 hải
lư (2 vĩ độ), từ vĩ tuyến 20 Bắc (Ninh B́nh) đến vĩ
tuyến 18 Bắc (Hà Tĩnh).
Theo lời thú nhận của Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công
Phụng từ đầu thập niên 1970, trong những cuộc thương
thảo phân định lănh hải, Trung Quốc "kiên tŕ" đề nghị
thiết lập vùng đánh cá chung tại Vịnh Bắc Việt.
Với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp Ước Hợp Tác Đánh Cá
năm 2000, Vùng Biển Cấm 60 hải lư từ Ninh B́nh đến Hà
Tĩnh chồng lấn hay trùng điệp với Vùng Đánh Cá Chung 61
hải lư từ Ninh B́nh đến Quảng B́nh.
Năm 1974 sau khi Hoa Kỳ rút quân khỏi chiến trường Việt
Nam, Trung Quốc thừa cơ chiếm nốt các đảo Hoàng Sa thuộc
Nhóm Nguyệt Thiềm. Nếu hải quân Việt Nam Cộng Ḥa đă hy
sinh chiến đấu th́ Bắc Việt chỉ làm thinh. Rồi trơ trẽn
ngụy biện: "Chủ quyền Hoàng Sa thuộc Việt Nam hay thuộc
Trung Quốc cũng vậy thôi !" (Báo Saigon Giải Phóng).
Năm 1979 Chiến Tranh Việt Trung bùng nổ làm đ́nh hoăn
cuộc thương nghị về lănh thổ và lănh hải.
Tranh chấp Việt Trung kéo dài từ 1979 đến 1988. Trong
thời gian này, ngày 12-11-1982 bằng văn thư gởi Liên
Hiệp Quốc để công bố Đường Căn Bản của Biển Lănh Thổ, Hà
Nội đă xác định chủ quyền lănh thổ Vịnh Bắc Việt theo
Hiệp Ước Bắc Kinh (1887) theo đó Việt Nam được 63%.
Từ 1988, khi Liên Xô bị sa lầy tại A Phú Hăn và bị bối
rối tại Đông Âu do phong trào Giải Thể Cộng Sản,
Gorbachev đưa ra chủ trương không can thiệp vào công
việc của các quốc gia đồng minh. Lúc này Hà Nội cũng bị
sa lầy tại Căm Bốt. V́ Liên Xô không c̣n là chỗ tựa, Hà
Nội phải muối mặt quay lại thần phục Bắc Kinh. Tháng 4,
1988, một tháng sau khi Trung Quốc xâm lấn Trường Sa,
Báo Nhân Dân c̣n ngụy biện rằng Việt Nam đă nhượng Hoàng
Sa Trường Sa cho Trung Quốc để ngăn chận Hoa Kỳ sử dụng
hai quần đảo nói trên!
Năm 1991 khi Liên Xô sụp đổ, Việt Nam xin tái lập bang
giao với Trung Quốc. Và năm 1992 khi Trung Quốc chiếm
băi dầu khí Vạn An phía Đông Nam Cà Mau, Việt Nam cũng
chỉ phản kháng chiếu lệ.
Năm 1999, với Hiệp Ước Biên Giới Việt Trung, Việt Nam
nhượng cho Trung Quốc khoảng 800 km2 lănh thổ Bắc Việt.
Năm 2000, với Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, Hà Nội nhượng cho
Bắc Kinh từ 12.000 km2 đến 21.000 km2 hải phận.
Ngày 25-12-2004 các phái bộ Trung-Việt tổ chức liên hoan
ngày kỷ niệm 4 năm kư kết Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp
Ước Hợp tác Nghề Cá.
Hai ngày sau, ngày 27-12-2004, nhà cầm quyền Bắc Kinh
loan báo đă bắt giữ 80 ngư phủ Việt Nam về tội xâm nhập
đánh cá bất hợp pháp. Các ngư phủ phản đối, nói họ vẫn
truyền nối hành nghề đánh cá tại vùng biển này từ đời
ông, đời cha. Nhưng lính tuần duyên Trung Quốc trả lời
đă có hiệp định mới, và vùng biển này chính thức thuộc
về Trung Quốc. Các ngư phủ không chịu, đ̣i báo cáo lên
đội biên pḥng Việt Nam. Lính hải quân Trung Quốc cười
ngạo nghễ, ném thuốc nổ gần tàu, rồi lái tầu tuần duyên
tông vô các tàu đánh cá khiến 23 ngư dân Việt Nam tại Đà
Nẵng và Quảng Ngăi bị chết ch́m, 6 người bị thương và 10
tàu đánh cá bị hư hỏng. Một số ngư dân khác tại B́nh
Định và Khánh Ḥa cũng bị xua đuổi không được đến đánh
cá tại ngoài khơi vùng biển Hoàng Sa. Những vụ sát hại
dă man này không được phổ biến trên báo chí.
Hai tuần sau, ngày 8-01-2005, tại Vịnh Bắc Bộ, các tàu
tuần duyên Trung Quốc bao vây và bắn xối xả vào các tàu
đánh cá Việt Nam khiến 9 ngư dân Thanh Hóa bị thiệt
mạng, 7 người bị thương và 8 người khác bị bắt đem đi.
Khi nội vụ phát giác, nhà cầm quyền Hà Nội c̣n muốn đổ
tội cho "bọn hải tặc". Trong khi đó, một vài tờ báoViệt
Nam lại loan tin các ngư phủ Việt Nam bị "tàu nước
ngoài" bao vây và dùng súng bắn xối xả. Và các hăng
thông tấn ngoại quốc như AFP, Reuters đă xác định rằng
đó chính là những tàu tuần duyên Trung Quốc. Vậy mà nhà
cầm quyền Hà Nội chỉ dám phản kháng lấy lệ, chỉ lên án
những hành động tự phát của các binh sĩ Trung Quốc và
yêu cầu trừng phạt những cá nhân phạm pháp.
Thực ra đây không phải là những hành vi tự phát lẻ loi
của một số binh sĩ vô trách nhiệm mà là cả một chính
sách khủng bố của Trung Quốc để ngăn cấm ngư dân Việt
Nam không được đến đánh cá tại vùng biển sâu, dành cho
Trung Quốc độc quyền đánh cá, thăm ḍ và khai thác dầu
khí. Hồi tháng 11, 2004, Trung Cộng c̣n ngang nhiên đưa
một giàn khoan dầu khí từ Thượng Hải vào thềm lục địa
Việt Nam chỉ cách bờ biển 63 km.
Ngày nay mọi người mới nh́n thấy ư đồ của Trung Quốc:
Vùng Đánh Cá Chung quy định trong Hiệp Ước Hợp Tác Nghề
Cá chỉ là sự biến h́nh của Vùng Biển Cấm, cấm địa hay
cấm hải do Trung Quốc ấn định từ đầu thập niên 1970. Măi
tới tháng 8, 2002 chính phủ Việt Nam mới lên tiếng phản
đối việc Trung Quốc ấn định Vùng Biển Cấm đánh cá tại
Vùng Đánh Cá Chung.
Từ sau ngày 30-6-2004 khi Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt và Hiệp
Ước Hợp Tác Đánh Cá có hiệu lực thi hành, Trung Quốc tự
ban cho họ độc quyền thao túng tại Vùng Biển Cấm trong
Vịnh BắcViệt cũng như tại miền duyên hải Trung Việt.
Theo ghi nhận của đội biên pḥng Việt Nam, nội trong năm
2004, riêng tại vùng biển Đà Nẵng, các tàu thuyền Trung
Quốc đă xâm nhập hải phận Việt Nam 1017 lần. Vậy mà
không thấy có phản ứng nào về phía Việt Nam.
Thừa thắng xông lên, từ tháng 10 đến tháng 12/2004, lính
hải quân Trung Quốc đă sát hại 23 ngư dân Đà Nẵng và
Quảng Ngăi.
Ngày 8-1-2005, các tàu tuần duyên Trung Quốc lại dùng
đại liên bắn chết 9 ngư dân Thanh Hóa trong Vùng Biển
Cấm tại Vịnh Bắc Việt. Đây là những hành động cố sát có
dự mưu trong đó Việt Cộng là kẻ đồng lơa bằng cách giúp
phương tiện.
Một tuần sau vụ khủng bố 8-1-2005, Trung Quốc đổi giọng,
bịa đặt rằng lực lượng tuần duyên Trung Quốc chỉ bắn
chết những kẻ cướp có vũ khí khi những người này định
cướp tàu đánh cá của Trung Quốc. Độc đáo hơn nữa, các
tàu đánh cá (tí hon) của Việt Nam đă nổ súng trước vào
các tàu tuần duyên (có trang bị súng đại liên) của Trung
Quốc! Vừa đánh trống vùa ăn cướp, Trung Quốc muốn biến
vụ cố sát của họ thành vụ cướp biển của hải tặc để đ̣i
quyền tự vệ chính đáng. Theo qui định của Ủy Ban Liên
Hợp, đối với các ngư dân hoạt động b́nh thường, các tàu
biên pḥng không được dùng vơ khí để hăm dọa, bạo hành,
đả thương hay cố sát. Các biện pháp xử lư chỉ có tính
cách hành chánh như bắt giữ các ngư thuyền vi phạm qui
luật, nhưng phải trả tàu và trả tự do cho ngư dân khi có
sự bảo lănh thích đáng.
Trong vụ khủng bố tại Vịnh Bắc Việt và vùng biển Hoàng
Sa, lính tuần duyên Trung Quốc đă giết người vô tội vạ
trong chính sách "sát nhất nhân, vạn nhân cụ" (giết một
số ngư dân vô tội khiến hàng vạn người khác sợ không dám
đi đánh cá tại miền duyên hải xa bờ).
TRƯỚC T̉A ÁN QUỐC DÂN
Tháng 6, 2004 khi các Hiệp Ước Vịnh Bắc Việt có hiệu lực
thi hành, thay mặt đồng bào trong nước không c̣n quyền
được nói, Ủy Ban Luật Gia Bảo Vệ Dân Quyền tại hải ngoại
đă kết án Đảng Cộng Sản Việt Nam về 4 tội phản bội tổ
quốc, với phần chủ văn như sau:
"Năm 1999 Đảng
Cộng Sản Việt Nam kư Hiệp Định Biên Giới Việt Trung để
nhượng đất biên giới cho Trung Quốc.
"Năm 2000, Đảng
Cộng Sản Việt Nam kư Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc Bộ và
Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá để bán nước Biển Đông và dâng
cá dâng dầu cho Trung Quốc .
"Năm 1958 bằng
văn thư của Phạm Văn Đồng, Đảng Cộng Sản Việt Nam cam
kết chuyển nhượng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho
Trung Quốc.
"Những hành vi
này cấu thành 4 tội phản bội Tổ Quốc bằng cách cấu kết
với nước ngoài nhằm xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm
phạm sự toàn vẹn lănh thổ của Tổ Quốc, và xâm phạm quyền
của Quốc Dân được sử dụng đầy đủ những tài nguyên và
nguồn lợi thiên nhiên của Đất Nước".
T.M. ỦY BAN LUẬT GIA BẢO VỆ DÂN
QUYỀN L.S. NGUYỄN HỮU THỐNG
|