Phiếm luận - Nam ăn Bắc chửi
Thanh Văn, 19.09.2005
LGT: Tác giả là dân "Bắc kỳ" chính cống. Ông hiện cư ngụ tại Sydney, Úc.
Nói
chuyện ăn uống hay chửi bới nhau th́ sự thật viết ra hàng chục cuốn sách
chưa chắc đă hết huống chi trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi như bài
này. Thế cho nên ở đây tác gỉa chỉ xin mạn phép "bàn" tới một vài món ăn
mà đa số dân ăn nhậu ngày nay không những ở miền Nam Việt Nam bây giờ mà
ở khắp nơi trên thế giới có dân Việt "gốc" miền Nam đều khoái. C̣n
chuyện chửi th́ hẳn quư độc gỉa cũng đă từng nghe nhắc đến chuyện dân "Bắc
kỳ" chửi mất gà, chửi trong cơn ghen v..v.. họ chửi có bài có bản đến độ
gần đây một nhà văn, nhà báo, cũng là nhà tranh đấu cho tự do dân chủ
khá nổi tiếng ở trong nước là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ có bút hiệu là Hà
Sĩ Phu đă gọi là "văn hóa chửi" khi đề cập đến chuyện chửi của người
Việt nhất là người Việt miền Bắc.
Bây giờ th́ xin nói chuyện ăn uống của dân
miền Nam trước. Miền Nam Việt Nam được gọi là miền có mưa năng hai mùa.
Thời tiết hay ông trời "dường như" có vẻ ưu đăi người miền Nam, không
bắt chịu đựng nhiều sự thay đổi của thời tiết nên chỉ cho miền Nam có 2
mùa mưa nắng. Quanh năm khí hậu ôn ḥa khiến thời tiết "h́nh như" như
cũng làm tâm tinh người miền Nam thoải mái, chân thật và không "thớ lợ"
như dân miền Bắc, "sắc mắc" như dân miền Trung. Bởi bản tính hiền ḥa và
"đơn giản" người miền Nam ăn uống cũng giản đơn như sống. Ngày xưa khi
những người di dân đầu tiên từ "đàng ngoài" và “đàng trong” theo chân
các đạo quân Nam tiến của Chúa Nguyễn. Những người đầu tiên sống ở miền
Nam đă phải biến chế thực phẩm tại địa phương thành những món ăn theo
nhu cầu sinh tồn. Rồi v́ một mặt vừa phải chống trọi với thiên nhiên,
một mặt phải chiến đấu với giặc gĩa cho nên dù có muốn bầy vẽ cho đủ thứ
như khi c̣n sống ở quê xưa cũng không thể làm được nên "phải" đơn giản
bớt đi cho dễ dàng và nhanh chóng. Riết rồi lâu ngày thành quen, nếp
sinh hoạt dần dần ăn sâu vào tiềm thức trở thành bản tính lưu truyền đời
này đến đời khác mà ngày nay người miền Nam có vậy.
Một trong những món ăn rất phổ thông và cũng rất "khoái khẩu" của dân
miền Nam là món canh chua. Món canh chua không phải là món "độc đáo" của
miền Nam, Miền Bắc cũng có nhưng gọi là "riêu", miền Trung cũng có vậy
nhưng 2 miền Bắc, Trung nấu nướng cần kỳ, vật liệu tuyển lựa kỹ càng làm
cho món ăn mỗi khi muốn ăn phải chuẩn bị kỹ lưỡng, đôi khi hóa thành
nhiêu khê khiến không phổ biến rộng răi được.
Miền Nam như đă ghi ở trên v́ bản tính người miền Nam xuề x̣a, vật liệu
địa phương lại đa dạng nên nồi canh chua của người miền Nam cũng v́ thế
mà thay đổi đa dạng theo từng địa phương. Nhưng tựu trung mục đích là
cung cấp một món ăn với cách nấu nướng đơn giản nhưng lại hợp khẩu vị
của đại đa số khiến món ăn trở thành phổ biến và được khai thác trong
mọi t́nh huống của những cuộc ăn nhậu. Người ta có thể "đăi" canh chua
cá bông lau, canh chua cá bống mú, canh chua cá chẽm. trong bữa tiệc
cưới, trong các bữa tiệc quan trọng khác như cúng giỗ, cỗ bàn đăi đằng
quan chức, khách sang đến canh chua cá chốt, canh chua tép, canh chua
mắm ruốc chỉ cốt làm cớ để chuyên chở khối lượng cơm cần phải nuốt trôi
xuống bao tử mà có sức ra làm đồng, đi đánh cá v..v.. Nói khác đi là
hoàn cảnh nào cũng có thể có một nồi canh chua trong một thời gian thích
hợp cho nhu cần ăn uống.
Nếu miền Bắc nấu "riêu" với trái sấu, trái nhót trái me th́ miền Trung
nấu canh chua với trái khóm, trái khế, trái me. Miền Nam th́ chả kiếm
đâu ra các trái sấu, trái nhót, có ǵ nấu nấy nên có me th́ nấu với me,
có khế th́ nấu với khế, có khóm th́ nấu với khóm, chẳng có những thứ đó
th́ ít trái chùm ruộc, vài nắm lá me non, vài trái cóc, thậm chí nếu chỉ
có độc nhất ít trái cà chua th́ nấu nồi canh chua đơn giản gọi là "nấu
xuông" cũng được vậy. Cái quan trọng của nồi canh chua là "ngon" và "vừa
miệng" chứ không phải để "tŕnh diễn". Một chi tiết nữa thiết nghĩ cũng
phải nhắc đến là như trên đă viết miền Nam mưa nắng hai mùa nên canh
chua ăn mùa nào cũng được, trong hoàn cảnh nào cũng thấy ngon miệng và
nhiều khi rất thống khoái là đằng khác.
Kẻ viết bài này có một vài kinh nghiệm ăn canh chua ở miến Nam như sau:
Hồi trước năm 1975, khi phục vụ tại tỉnh Bến Tre tôi thường nhân dịp về
tỉnh công tác hay có dịp thường t́m đến một quán ăn có một người đầu bếp
Việt gốc Hoa ở gần khu chợ để thưởng thức món canh chua cá bông lau do
người đầu bếp này nấu. Cá bông lau là loại cá giống cá tra tức là cá da
trơn nhưng khác cá tra là đuôi nó có xọc mầu đỏ sống ở vùng nước lợ (tức
là nước ngọt có pha nước mặn từ biển tràn vào). Vào mùa nước sông Cửu
Long cạn, nước biển tràn vào sông Hàm Luông, ngược lên đến tận tỉnh lỵ
nên cá bông lau lúc này dân đánh cá có thể đánh bắt ngay tại khúc sông
trong phạm vi tỉnh lỵ, cá bắt được nhiều khi c̣n tươi rói đă được nhà
hàng mua ngay để nấu canh chua bán cho thực khách, v́ nguyên liệu tươi
tốt, lại do tài nấu nướng giỏi, món canh chua của nhà hàng tôi ghi trên
rất nổi tiếng ở Bến Tre thời bấy giờ. Trước đó ít năm khi c̣n phục vụ ở
B́nh Dương, tôi được ăn món canh chua lươn ở nhà hàng của một vị giáo sư
trường mỹ nghệ B́nh Dương cũng rất là đặc sắc, ăn một lần là khó thể
quên thế nào cũng t́m đến ăn nhiều lần tiếp theo. Ngay tại quận lỵ Mỏ
Cày thời tôi làm việc khoảng các năm 1972-1974 có một vị Trưởng chi
Thanh Niên, anh này ngoài tài nghệ chuyên môn về thể thao như đánh
tennis rất hay trước 1975 từng làm huấn luyện viên môn này cho các quan
đầu quận, sau 1975 nghe nói cũng nhờ cái tài này mà anh vẫn được các
quan chức của chế độ mới "trọng dụng" như xưa, anh c̣n một tài vặt là
nấu ăn và món ruột của anh là món canh chua thịt gà. Tôi đă được vài lần
ăn canh chua gà do anh nấu, qủa là xuất sắc và đặc biệt. Bà ǵa anh th́
có món "dưa lỗ tai heo" cũng là món "đặc sản" mà sau nay dù đă đi khắp
năm châu bốn bể tôi cũng không t́m thấy ở đâu có bán.
Canh chua chủ yếu là phải có vị chua, vị chua này như trên đă tŕnh bầy
có thể là do vị chua tiết ra từ qủa me, qủa sấu, qủa nhót của miền Bắc,
của trái me, trái dứa, trái khế của miền Trung, trái cóc, trái me, trái
bần, trái chùm ruộc, nắm lá me, lá vang chua của miền Nam, nhưng nồi
canh sẽ mang vị ngon khác nhau tùy theo cái món làm cho nó mang tên như
nấu với cá bông lau th́ thành canh chua cá bông lau, nấu với gà th́
thành canh chua gà, nấu với lươn th́ thành canh chua lươn, nếu chỉ nấu
với nấm rơm và đậu hủ th́ thành canh chua chay. Gọi là món chay nhưng
không phải chỉ giành riêng cho nhà chùa mà dân nhậu khắp nơi miền Nam ai
nhậu với canh chua chay cũng đều khoái hết, do đó nó không "độc quyền"
của nhà chùa mà phổ biến khắp dân gian miền Nam.
Một món ăn b́nh dân nữa tưởng cần phải nhắc đến ở đây là món mực khô
nướng. Hồi năm 1954 khi mới từ Bắc di cư vào Nam tôi chỉ thấy một số
người Việt gốc Hoa có những xe bán khô mực nướng trên xe có một dụng cụ
chuyên dùng để "cán" cho con khô mực vừa mỏng ra vừa gần đứt thành từng
sợi nhỏ cho dễ ăn. Sau này đi khắp miền Nam tôi thấy không phải chỉ ở
thành phố mới có các xe bán khô mực nướng như thế người dân miền Nam ăn
khô mực nướng ở khắp mọi nơi, nướng khô mực bằng nhiều cách khác nhau,
không hẳn "phải" trên bếp than củi kiểu của các xe bán khô mực của người
Việt gốc Hoa mà nhiều khi chỉ cần một đống lửa có sẵn nhân đốt lên v́
một mục đích khác cũng có thể nướng khô mực để có một món nhậu rất "bắt"
vậy. Thỉnh thoảng cũng có người "cấu kỳ" cho rằng nướng khô mực bằng vỏ
sọ dừa khô mới "ngon" v́ vỏ sọ dừa khô khi cháy c̣n bốc mùi thơm của dầu
dừa, mùi thơm này "quện" vào con khô mực nướng khiến ăn vừa có mùi mực,
lại có thêm mùi thơm của dầu dừa nữa. Điều quan trọng ở đây là món ăn
b́nh dân này có thể t́m thấy ở bất cứ đâu ở miền Nam Việt Nam. Món ăn
này tuyệt đối không "kỳ thị" giầu nghèo, sang hèn, nam nữ, tuổi tác,
nghĩa là bất cứ ai cũng có thể "xực" và khoái nó hết.
Điều đáng nói ở đây là ngày nay hai món ăn kể trên không những phổ biến
rộng răi khắp nước từ Nam ra Bắc (tất nhiên ở miền Nam th́ phổ thông hơn)
mà nó c̣n ra hải ngoại. Thử vào các nhà hàng Việt Nam ở Mỹ, ở Canada, ở
Pháp, ở Úc mà xem, món canh chua là một món nhất định không thể thiếu
trong thực đơn của các nhà hàng đó. Thậm chí nếu ai du lịch lên tận Bắc
Âu, như Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Phần Lan, hay Nhật bản nếu vào các
nhà hàng ăn Việt Nam ở những xứ này th́ nhất định cũng sẽ thấy thực đơn
có món canh chua. Nói chung là món canh chua của Việt Nam nhất là miền
Nam Việt Nam nay đă thành một món ăn "quốc tế" xuất hiện không những
khắp nơi trong nước mà c̣n khắp thế giới đấy. C̣n món khô mực nướng th́
bất cứ xiêu thị Á Châu nào cũng có bán, người ta "đóng bao" bằng nylon
bán dưới nhiều dạng và trọng lượng khác nhau. Khô mực nướng không hoàn
toàn chỉ do Việt Nam chế tạo mà ngày nay nhiều nước Á Châu khác như Tầu,
Đại Hàn, Nhật và cả Indonesia, Malaysia cũng đều có sản xuất và bán.
Ngày nay ở miền Nam Việt Nam cái vụ ăn uống đă trở thành bùng phát dữ
dội : nhà hàng tiệm ăn mọc ra như nấm, đường nào, phố nào cũng đầy rẫy
các tiệm ăn, nhà hàng. Người ta “thi đua” kéo nhau đến các tiêm quán ăn
nhậu với bất cứ lư do ǵ.
Nói chuyện ăn cũng là "từ" ăn, tiếng Việt là loại đơn âm nhưng lại đa
nghĩa. Chỉ một chữ ăn thôi nhưng nếu nó đi kèm một chữ khác th́ nó lại
có nghĩa khác. Thí du: ăn thuốc là hút thuốc, ăn dầu là xe hay máy tiêu
thụ xăng dầu, ăn bớt là lén bớt tiền dùng vào mục chi nào đó, ăn quit là
vay nợ lấy tiền rồi "chém vè" bỏ chạy, không chịu hoàn trả, ăn đút lót
là nhận tiền hay đồ vật hối lộ v..v.. nhiều lắm, kể sao cho xiết, nhưng
có một điều rất rơ ràng là các quan chức nhà nước Việt Nam, và những kẻ
sống bám vào đám cầm quyền này mà ăn nên làm ra nay trở thành "tư bản đỏ"
th́ tiền vào th́ có, tiền ra nhất định là KHÔNG. Thử nh́n xem hàng chục
năm nay rồi, thiên tai băo lụt hàng năm xẩy ra trong nước năm nào mà
không có; người chết hàng đống, người mất nhà mất cửa hằng hà xa số có
thấy các"nhà tư bản đỏ" bỏ ra một xu nào cứu trợ các nạn nhân, đồng bào
ruột thịt khốn khổ đó hay không? Hay chỉ thấy họ lớn họng kêu gọi "khúc
ruột ngàn dặm" hăy v́ t́nh lá lành đùm lá rách, móc hầu bao mà cứu giúp
nạn nhân thiên tai trong nước mà thôi!
Ấy thế mà có một giới hiện nay ở miền Nam "ăn" được tiền của "tư bản đỏ"
đấy. Xin thưa ngay là giới "gơ đầu trẻ", tức là giới thầy cô giáo đấy ạ!
Các thầy cô bầy ra chuyện "dậy kèm" để moi tiền của bọn "tư bản đỏ".
Chúng "muốn con hay chữ" th́ "phải yêu lấy thầy", do đó nay phải biếu,
mai phải xén, phải móc hầu bao cho con học kèm với các thầy cô. Bởi các
thầy cô áp dụng "chiến thuật" "tiền nào của nấy" tiền chi đến đâu, dậy
đến đó. Lương nhà nước trả không đủ sống th́ dậy theo kiểu"chết đói".
Các thầy cô cần sống nên phải "vẽ" ra chuyện dậy kèm để vừa kiếm sống,
vừa có dịp móc túi bọn "tư bản đỏ". Có điều tội nghiệp cho con em các
nhà nghèo không có thể theo đuổi các lớp học kèm đành mang phận "dốt"
vậy. Thành thử có lẽ ngày nay ở trong nước chỉ có giới này là giới "ăn"
được tiền của đám "tư bản đỏ" đấy qúy vị ạ!
Bây giờ "bàn" đến cái chi tiết thứ hai nêu lên ở đề tài bài viết, đó là
"Bắc chửi". Chuyện chửi mất gà, chửi v́ ghen có bài bản đến độ Tiến sĩ
Nguyễn Xuân Tụ gọi là "văn hóa chửi" th́ xin miễn bàn ở đây. Chỉ xin nêu
ra ở đây chuyện dân Miền Bắc ngày nay chửi đảng cộng sản Việt Nam và các
quan chức nhà nước tham nhũng như chửi chó. Sự kiện này nó phổ thông đến
độ bất cứ ai từ hải ngoại về thăm Việt Nam, nếu ra Bắc đi thăm các thắng
cảnh ở miền Bắc, nếu gợi chuyện với tài xế dù là Taxi hay xe ca, xe
khách hay xe của các công ty du lịch th́ sẽ lập tức được nghe các bác
tài này "mở máy" chửi dảng cộng sản và các quan chức nhà nước tham nhũng
"như chớp". Họ chửi cũng "có bài có bản", có căn nguyên, lư do, có dẫn
chứng cụ thể chứ không phải chửi vu vơ cho xướng miệng. Người mới về
thăm quê sau nhiều năm xa xứ mới nghe họ chửi sẽ ớn, nghi là công an cố
t́nh gài bẫy Việt kiều anh nào "dại dột" mở miệng chửi theo th́ sẽ gặp
rắc rối về sau. Thực sự không phải như vậy; họ chửi thật đấy, ai ṭ ṃ
len lỏi vào các khu dân nghèo, như lê la ở chợ Đồng Xuân, "đấu" với mấy
bà bán hàng ở chợ mà xem hay tham gia những bữa ăn nhậu có các cựu bộ
đội, cựu công nhân viên nhà nước vốn là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam
th́ sẽ thấy là họ chửi nhà nước, chửi đảng cộng sản ào ào, chửi thẳng
thừng, chửi vung "xích chó" chả nể nang ǵ hết.
Nếu ai có thắc mắc hỏi tại sao họ dám chửi như thế th́ họ cho hay là :"ối
dào! Thiên hạ chửi tùm lum đă lâu, chúng nó nghe riết "chai" lỗ tai rồi
nên mặc kệ. Chỉ khi nào "có hành động hay ư định chống đối cụ thể" nhằm
lật đổ chế độc tài do chúng đang nắm giữ th́ sẽ thấy chúng phản ứng rất
dữ dội. Chúng sẽ "thẳng tay" đàn áp sẽ dùng "chuyên chính vô sản" không
nương tay. C̣n ngoại gỉa chúng mặc kệ coi như đó là cái nút an toàn của
nồi xúp de mà thôi.
Dưới đây xin nêu ra một vài thí dụ để chứng minh cho nhận định trên như
sau:
Ngày xưa Chiêu Lỳ có bài thơ yết hậu rất nổi danh và rất phổ thông trong
làng "chai lọ" là :
Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết xuống âm phủ cắp kè kè !
Diêm Vương phán hỏi mang ǵ đấy?
Be !
Ngày nay dân miền Bắc và nhất là Hànội đă nhại bài thơ của Chiêu Lỳ ghi
trên thành những bài như sau :
Bài nhại thứ nhất :
Sống ở dương gian nói huyên thuyên,
Chết xuông âm phủ rủng rỉnh tiền;
Diêm Vương phán hỏi nghề ǵ vậy?
Đảng viên !
Bài nhái thứ hai :
Sống ở dương gian chẳng sợ tù,
Chết xuống âm phủ vẫn ô dù !
Diêm Vương phán hỏi từ đâu tới?
Bắc Bộ Phủ !
Rồi nữa các đảng viên "cốt cán" nhưng nay thuộc nhóm không có "ô dù",
cay cú cũng làm thơ chửi đảng như bài thơ "Thường dân" dựa theo câu "quan
nhất thời dân vạn đại" :
Đông th́ chật, ít th́ thưa,
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân.
Quanh năm chân đất, đầu trần,
Tác tan sau những vũ vần băo giông.
Trước là cây mác, cây chông,
Đánh giặc cứu nước... nay không là ǵ!
Thấp cao đâu có xá chi;
Ngàn năm cỏ vẫn xanh ŕ cỏ thôi!
Ăn của đất uống của trời,
Dốc ḷng cởi dạ cho người ḿnh tin.
Ồn ào mà vẫn lặng im;
Mặc ai voi chó nổi ch́m thiệt hơn!
Chỉ mong ấm áo no cơm,
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Ḥa vào trời đất mà xanh;
Vô tư mấy kiếp mới thành "thường dân" !
Mạnh mẽ hơn nữa, nữ văn sĩ Dương Thu Hương, một người tự nhận là một nhà
tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, trong một bài viết về cuộc đấu tranh
dân chủ cho Việt Nam, khi bàn đến vụ bắt bớ hàng loạt những người tranh
đấu cho dân chủ kể từ năm 2002 và nhất là vụ xử án ông Phạm Quế Dương.
Ông Dương bị kết tội làm gián điệp. Bà đă viết về bản luận tội của nhà
cầm quyền Việt Nam như sau:
“tính chất phi lư, phi pháp, phi nhân biểu hiện ở
bản luận tội vừa tàn bạo, vừa đê tiện của người đại diện cho chính quyền
và ban văn khố tư tưởng Việt Nam. Cái thứ tổ chức đặc trưng cho các nhà
nước xây dựng theo mô h́nh phát xít. Tôi chỉ bàn tới tính ngạo ngược
hiển hiện ra trong từng lời từng chữ của họ. Vu khống sỉ nhục, tàn diệt
vốn là hành xử tự nhiên của kẻ cầm quyền ở những xứ sở chưa phát triển,
dân trí thấp kém”.
Cũng trong bài viết đó bà Dương Thu Hương đả nhận định về nhà cầm quyền
Việt Nam như sau: “Nhà nước Việt Nam một chính
quyền thồi rữa một cách công khai, vô năng một cách hiển nhiên trên
nhiều lănh vực và tàn bạo một cách ngạo ngược trong việc đàn áp dân
chúng”.
Bà cũng nêu lên dân chúng bêu rếu nhà nước và đảng CSVN như vụ nông dân
Hải Hưng đă đặt tên mới cho đảng CSVN là đảng cộng đớp Việt Nam, rồi bà
c̣n ghi thêm là đám dân đen ở các thành phố, đô thị tục tĩu hơn đă đổi
thành đảng cộng mút”.
Chửi như thế th́ thật là cạn tầu ráo máng rồi c̣n ǵ nữa. Đúng là chửi
hay chỉ có dân Bắc kỳ.