30 Năm Sài G̣n Mất Tên
GS Nguyễn Lư-Tưởng
(Bài phát biểu tại Bruxelles ngày 20/5/2006 và tại Paris
21/5/2006 nhân kỷ niệm 30 năm Sài G̣n bị mất tên (1976-2006).
(Ngày 2 tháng 7 năm 1976 Quốc Hội Khóa VI của CSVN ra quyết nghị đổi tên TP Sài G̣n-Gia Định là TP/Hồ Chí Minh).
Kính thưa quư vị...
Tháng 5, 1998, nhân kỷ niệm 30 năm xảy ra vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế
(1968-1998), lần đầu tiên, tôi được mời đến đây với tư cách là nhân chứng...Hôm
nay, sau 08 năm xa vắng, tôi lại được đến đây lần thứ hai, trước hết là do ḷng
hiếu khách và nhiệt t́nh của các thân hữu đối với chị em chúng tôi ( Nhà văn Nhă
Ca và Nguyễn Lư-Tưởng); sau nữa, chúng tôi đến đây là v́ tin tưởng vào truyền
thống văn hóa tốt đẹp đa dạng của Paris, nơi được gọi là kinh đô ánh sáng, trung
tâm của nền văn minh thế giới hiện đại. Và, nơi đây cũng thể hiện ḷng bao dung
của quư vị nhân sĩ, trí thức và đồng hương. Tôi không phải là một nhà hùng biện.
Tôi đến đây với một tấm ḷng chân thành, đơn sơ mộc mạc mang h́nh ảnh của một
người dân quê Quảng Trị, nơi tôi đă sinh ra và lớn lên. Trước một cử tọa vô cùng
quan trọng gồm những nhà trí thức, khoa bảng, những bậc đàn anh, những bậc thầy...
như quư vị đây, tôi thật là người "đứng trước Thái Sơn mà không biết". Nếu có
điều ǵ vụng về, thất lễ...kính xin quư vị bỏ qua cho.
Tôi xin mượn lời Đức Khổng Tử đă nói từ hơn 2500 năm trước, được ghi lại trong
sách Luận Ngữ: " Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?" (có bạn từ xa
đến chơi, há chẳng vui sao?" Hôm nay, không phải chỉ riêng chúng tôi được làm
người bạn từ phương xa dến, mà cả quư vị nữa. V́, đây cũng là cơ hội thuận tiện,
tốt đẹp nhất để mọi người gặp gỡ nhau.
Tôi xin cám ơn Ban Tổ Chức, cám ơn các đoàn thể, hội đoàn trong Cộng Đồng người
Việt tỵ nạn, các thân hữu và quư vị quan khách đă dành cho chúng tôi cuộc gặp gỡ
ngày hôm nay.
Tôi là người được nói cuối cùng, những ǵ được xem là "lời hay, ư đẹp" đều đă
được quư vị phát biểu trước tôi, nói ra hết rồi. Vậy, để được đền bù lại chỗ
thiệt tḥi đó, tôi xin được phát biểu dài ḍng một chút theo niềm cảm hứng của
ḿnh...
Kính thưa quư vị:
(1). Sài G̣n là Trái Tim của đất Gia Định, của Đồng Nai-Cửu Long- Nam Kỳ Lục
Tỉnh. Sài G̣n là nơi "địa linh sinh nhân kiệt", đất nước anh hùng...với tinh
thần "kiến nghĩa bất vi, vô dũng dă". Tên Sài G̣n đă có trong sử sách hơn ba
trăm năm nay.
Dựa theo thuyết "địa lư lịch sử", có người đă đưa ra nhận xét: Bán đảo Đông
Dương có h́nh chữ "S" như con rồng uốn ḿnh bên bờ Thái B́nh Dương, có hai con
sông lớn rất quan trọng: Hồng Hà va Cửu Long.
Miền Bắc: Hồng Hà phát xuất từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua Miền Bắc rồi ra
biển với chiều dài 1200 km. Mặc dù đă đem phù sa ở Vân Nam bồi đắp nên đồng bằng
Bắc Việt, nhưng sông nầy hằng năm, đă gây nên nhiều trận lụt lớn làm cho đồng
bào Miền Bắc rất khốn đốn. Chiều dài của sông Hồng trên lănh thổ nước ta cũng
không dài lắm so với sông Cửu Long.
Do hoàn cảnh lịch sử, người dân miền Bắc luôn luôn chịu áp lực nặng nề của một
dân tộc vĩ đại và hiếu chiến với tinh thần Đại Hán là Trung Quốc ở bên cạnh. Các
cuộc chiến tranh xâm lăng trong lịch sử từ phương Bắc, đă cho người dân Miền Bắc
nước ta một kinh nghiệm: phải nhẫn nhục chịu đựng và phải biết vâng phục trước
sức mạnh của kẻ thù. Trong hoàn cảnh như thế, bọn xâm lăng bảo sao, người dân
Miền Bắc đều "vâng vâng, dạ dạ" cho qua chuyện để sống. Do đó, người Miền Bắc bề
ngoài nói năng ngọt ngào, khéo léo, có vẻ ngoại giao...Nhưng trong bụng, họ đang
nghĩ ǵ, đang mưu tính điều ǵ, khó mà biết được.
Các triều đại từ Đinh, Lê, Lư, Trần, Hậu Lê đă cai trị Miền Bắc, đặt thủ đô tại
Hà Nội, có tổ chức hành chánh lâu đời; nhiều người đỗ đạt nhờ có học hành thi cử
trải qua hàng ngàn năm. Đất Miền Bắc núi non hùng vỹ, có nhiều danh lam thắng
cảnh, di tích lịch sử nên cũng là nơi phát xuất nhiều người có tài văn chương
thi phú. Miền Bắc ở gần Trung Quốc nên cũng chịu ảnh hưởng văn minh, văn hóa từ
Trung Quốc truyền sang nhiều hơn các miền xa xuôi khác của nước ta.
Khi có họa xâm lăng từ phương Bắc, những người anh hùng từ Miền Bắc, trong nhất
thời, chưa kịp tập họp nhau lại nên họ chạy vào Thanh Hóa, Nghệ An nương náu,
đợi thời cơ thuận tiện để mưu đồ phục quốc. Do đó, đất Miền Trung là nơi anh
hùng tụ hội, nơi xây dựng lực lượng để "đánh đuổi xâm lăng, giải phóng đất nước,
dành lại độc lập cho dân tộc". Đa số các vị sáng lập triều đại, lănh đạo toàn
dân chống xâm lăng đều từ Nam tiến ra Bắc.Miền Trung:
Người Miền Trung sống trong một địa thế "nước chảy một chiều từ Tây sang Đông,
từ Trường Sơn ra biển Thái B́nh" nên tính t́nh của họ, theo bên nào là dứt khoát
một bề. Thời tiết khắc nghiệt, trong một năm có khi thiên tai băo lụt đến bốn
năm lần. Trong thời b́nh, ngoài việc chăm sóc ruộng vườn, họ c̣n phải làm thêm
nghề rừng, nghề biển mới đủ sống. Trong cuộc nội chiến dưới thời Trịnh Nguyễn (từ
thế kỷ 16 đến thế kỷ 18) và trong cuộc Nam Tiến từ thời Lư, Trần, hậu Lê và nhất
là dưới thời các chúa Nguyễn (từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Ánh), dân phải
chiến đấu để giữ đất, giữ làng, bảo vệ tài sản của ḿnh nên họ có kinh nghiệm
tranh đấu để sinh tồn...Dân nghèo, muốn vươn lên th́ phải chịu khó học hành để
đỗ đạt, làm quan, giữ vai tṛ lănh đạo trong xă hội. Thanh niên lớn lên nuôi
mộng làm quan, làm tướng, người anh hùng th́ nuôi mộng làm chúa, làm vua. Do đó,
Miền Trung vốn là nơi phát xuất các ḍng lănh đạo như Lê Lợi, Trịnh Kiểm, Nguyễn
Hoàng, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ...và gần đây như Hồ Chí Minh, Ngô Đ́nh Diệm,
Nguyễn Văn Thiệu, v.v. Thời b́nh th́ giúp vua, giúp nước, thời loạn th́ lập
chiến khu chống xâm lăng như Phan Đ́nh Phùng, làm cách mạng như Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, Cường Để hoặc trở thành những nhà tư tưởng cải cách như Nguyễn
Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ,v.v...
Miền Nam:
Sông Cửu Long phát xuất từ miền địa linh Tây Tạng, nguồn gốc của nhiều tôn giáo,
chảy qua Trung Quốc, Miến Điện, Thái, Lào, Kampuchia rồi mới vào Miền Nam Việt
Nam, chảy ra biển với 09 cửa sông: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Ba Lai,
cửa Ba Sắc, cửa Cổ Chiên, cửa Định An, cửa Cung Hầu, cửa Tranh Đế. Với chiều dài
4200 km, Cửu Long là con sông dài nhất Á Châu. Tất cả những tinh túy của vùng
núi con, cao nguyên, rừng thiêng...của các quốc gia nói trên đă theo ḍng nước
Cửu Long tích tụ tại Miền Nam nước ta. Phần tốt đẹp nhất, giàu có nhất là đồng
bằng sông Cửu Long với ruộng đồng ph́ nhiêu, tôm cá dồi dào, khí hậu ấm áp, mưa
thuận gió ḥa...là nơi Trời dành riêng cho dân tộc Việt Nam. V́ là nơi tụ khí
linh thiêng nên mới phát sinh các tôn giáo như Phật Giáo Tứ Ân, Cao Đài, Phật
Giáo Ḥa Hảo...Đó là các tôn giáo do người Việt Nam sáng lập dựa trên niềm tin,
phong tục của xă hội Việt Nam, nên chỉ trong một thời gian ngắn mà đă phát triển
rất nhanh, rất mạnh, số tín đồ ngang ngửa với các tôn giáo đă có mặt tại nước ta
hàng trăm, hàng ngàn năm như Phật, Lăo và Thiên Chúa Giáo là những tôn giáo du
nhập từ Ấn Độ, Trung Quốc hay Âu Châu.
Dân Miền Nam bản chất anh hùng, thấy việc bất b́nh không thể bỏ qua được, người
b́nh dân mà dám liều thân v́ việc nghĩa "kiến nghĩa bất vi, vô dũng dă" (Thấy
điều nghĩa mà không làm là người hèn!) Bất cứ nơi nào ở Miền Nam đều có hạng
người như thế.
Lịch sử h́nh thành Miền Nam:
Ai đă góp công công mở mang vùng Đồng Nai - Cửu Long?
Trước thế kỷ thứ 17, tại Miền Nam đă có các dân tộc Phù Nam, Bồn Man, Chàm, Chân
Lạp (chúng ta thường gọi là người Miên hay Khmer) đến khai thác những chỗ đất
cao như vùng Trà Vinh, Sóc Trăng,v.v...Đa số phần đất c̣n lại chưa có người ở là
một vùng đất mênh mông, nhiều chỗ c̣n hoang vu, đồng lầy ngập nước với những
cánh rừng tràm và cây đước mọc um tùm, muỗi ṃng, rắn rết, cá sấu, cọp beo, thú
dữ, đĩa đói... Qua các đợt Nam tiến, các chúa Nguyễn đă quy tụ những những người
dân có máu phiêu lưu mạo hiểm, có tinh thần tranh đấu, cho đi lập nghiệp ở đất
mới. Họ đă phải đối đầu với quân thù, với ma thiêng nước độc, cọp beo thú dữ, cá
sấu, rắn rết, muỗi ṃng, đĩa đói...Bàn tay của họ đă dựng nên nhà cửa, ruộng
vườn, lập thành làng mạc. Trên phần đất vô chủ nầy, ai có sức mạnh th́ làm chủ,
ai có công lao khó nhọc th́ tạo nên ruộng vườn, nhà cửa, làng mạc. Thời Hiền
vương Nguyễn Phúc Tần (1649-1687) quân đội của chúa Nguyễn rất hùng mạnh, hai
danh tướng Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật đă đem quân đánh chiếm 7 huyện phía
Nam sông Lam của vua Lê chúa Trịnh trong 06 năm và đă đốt cháy 03 chiếc tàu của
Ḥa Lan do Van Liestvel chỉ huy ở trên biển Đông, chỉ c̣n một người sống sót
chạy về Batavia (Nam Dương), đă làm cho tất cả các nước trong vùng phải kiêng nể.
Vua Chân Lạp đă chịu thần phục chúa Nguyễn và triều cống hàng năm. Năm 1692, đầu
đời chúa Nguyễn Phúc Chu, toàn bộ lănh thổ Chiêm Thành đă thuộc về chúa Nguyễn.
Để bảo vệ những nơi có người Việt đến khai khẩn đất hoang, chúa Nguyễn đă cho
đóng quân bên cạnh quân đội Chân Lạp. Tại những vùng đất mới, chúa Nguyễn đă cho
tổ chức những lực lượng tự vệ gồm có binh sĩ và gia đ́nh của họ kết hợp với dân
đến định cư, lập nghiệp. Họ đă thành lập những làng gọi là "đồn điền", thời b́nh
th́ làm ruộng, khi có chiến tranh th́ họ là lực lượng chiến đấu tự vệ. Đó là
chính sách "tịnh vi nông, động vi binh" đă có từ thời Lư, Trần, Lê...ở nước ta.
Lợi dụng lúc chú cháu vua Miên là Nặc Ông Chân và Nặc Ông Đài tranh quyền, chúa
Hiền lấy lư do bảo vệ người Việt nên ra lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh đem 3000 quân
vào đóng ở Bà Rịa, bắt được Nặc Ông Chân, sau đó tha cho về và bắt phải triều
cống nước ta. Sau khi Nặc Ông Chân chết, Nặc Ông Nộn và Nặc Ông Đài tranh nhau
ngôi vua. Đài qua cầu viện vua Xiêm (Thái Lan), Nộn th́ chạy sang cầu cứu với
chúa Nguyễn. Quân chúa Nguyễn đánh Nặc Ông Đài tại Sài G̣n, Đài bỏ chạy qua Nam
Vang và chết ở trong rừng. Chúa Nguyễn chia đôi nước Chân Lạp cho Nặc Ông Thu (là
con ḍng trưởng) làm vua một nửa nước và Nặc Ông Nộn làm vua phần c̣n lại. Hai
vua Miên đều dưới quyền của chúa Nguyễn, hằng năm phải triều cống. Người Miên (Chân
Lạp) dần dần suy yếu, cho đến thời chúa Nguyễn Phúc Ánh (1790-1800), th́ c̣n lại
12 thủ lănh người Miên chiếm cứ 12 vùng chung quanh Gia Định. Trước khi Nguyễn
Phúc Ánh thắng Tây Sơn, thống nhất đất nước vào năm 1802, tất cả 12 thủ lănh
người Miên nầy đă theo về với ông.
Từ thời lập quốc đến thế kỷ thứ 10, biên giới nước ta mới đến Đèo Ngang (Hà Tĩnh
sang Quảng B́nh). Cuộc Nam tiến thời Lê Thánh Tông (thế kỷ 15,16) quân ta mới
đến Đèo Cả (tỉnh Phú Yên). Bảo vệ và phát triển vùng đất mới từ Đèo Ngang trở
vào là công lao của Nguyễn Hoàng và con cháu của ông. Cho đến đời Nguyễn Phúc
Tần (1649-1687), Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725) th́ người Việt mới có mặt ở vùng
Đồng Nai, Cửu Long (Miền Nam ngày nay). Diện tích xứ Đàng Trong dưới thời các
chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn mở mang c̣n lớn hơn diện tích nước Việt Nam từ
thời Đinh, Lê, Lư, Trần và Hậu Lê. Nói lên điều đó để thấy rằng việc nhà nước
CSVN hiện tại xóa bỏ tên Sài G̣n là phủ nhận công lao của tiền nhân đă ba trăm
năm mở mang vùng Đồng Nai - Cửu Long tức Miền Nam nước Việt của chúng ta ngày
nay.
Tổ tiên của những người Miền Nam chính là dân Ngũ Quảng vào (Quảng B́nh, Quảng
Trị, Quảng Đức (Thừa Thiên), Quảng Nam, Quảng Ngăi) những danh tướng như Nguyễn
Hữu Cảnh (Quảng B́nh), Nguyễn Cư Trinh (Thừa Thiên), Châu Văn Tiếp (B́nh Định),
Đỗ Thanh Nhân (Thừa Thiên), Nguyễn Văn Thành (Thừa Thiên), Lê Văn Duyệt (Quảng
Ngăi), Nguyễn Văn Thoại (tức Thoại Ngọc Hầu, Quảng Nam),v.v.
-Sự có mặt của người Hoa (Minh hương) dưới thời các chúa Nguyễn:
Dưới thời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (1649-1687) người Măn Châu xâm lăng
Trung Hoa, lật đổ nhà Minh, lập ra nhà Thanh. Những người trung thành với nhà
Minh đă bỏ nước ra đi, đem quân đội và gia đ́nh đến nước ta xin theo chúa Nguyễn.
Sách "Đại Nam Thực Lục Tiền Biên" và "Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên" do Quốc Sử
Quán nhà Nguyễn biên soạn (ghi chép công nghiệp các chúa và các công thần thời
các chúa Nguyễn) cho biết:
"Vào một ngày tháng Giêng năm Kỷ Mùi (1679) tức năm thứ 31 dưới triều đại chúa
Hiền Vương, hai quan pḥng giữ cửa biển Tư Hiền (Thừa Thiên) và Đà Nẵng (Quảng
Nam) bỗng phát hiện một đoàn chiến thuyền của Trung Quốc kéo đến nước ta. Lệnh
cấp báo được ngựa trạm tŕnh về kinh đô Phú Xuân (Huế) và toàn bộ hải quân của
xứ Đàng Trong được lệnh phải pḥng giữ cửa biển thật nghiêm ngặt. Nhưng đoàn
chiến thuyền kia đă dừng lại ở ngoài khơi và một chiếc thuyền nhỏ chở phái đoàn
khách đă đáp vào bờ với những lễ vật và tờ tấu tŕnh bày hoàn cảnh của họ: Đó là
những quan quân nhà Minh, bị người Măn Châu (Nhà Thanh) xâm lăng, không chịu
khuất phục cường quyền và để tỏ ḷng trung thành với nhà Minh nên họ đă bỏ nước
ra đi, đến xứ Đàng Trong, xin được phục vụ và thề hứa tuyệt đối trung thành với
chúa Nguyễn. Đạo quân thứ nhất do Dương Ngạn Địch (nguyên Tổng binh Long Môn)
chỉ huy, với phó tướng Hoàng Tiến. Đạo quân thứ hai do Trần Thượng Xuyên, (nguyên
Tổng binh ở Cao Lôi Liêm, tỉnh Quảng Đông) chỉ huy, với phó tướng Trần An B́nh.
Toàn bộ lực lượng của họ gồm có 50 chiến thuyền với 3.000 binh sĩ và gia đ́nh".
Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (tức Thái Tông Hiếu Triết Hoàng Đế của nhà
Nguyễn), sinh năm 1620, lên nối nghiệp chúa cai trị xứ Đàng Trong từ năm 1648
đến 1687 là người anh hùng đă từng đem quân đánh chiếm 7 huyện phía Nam sông Lam
(Nghệ An) của họ Trịnh trong 6 năm và cũng đă tiêu diệt Chiêm Thành và thôn tính
đất Chân Lạp, biến xứ Đàng Trong thành một nước giàu có, hùng mạnh vào bậc nhất
ở vùng Đông Nam Á thời bấy giờ, uy danh vang dội đến nhà Minh, nhà Thanh bên
Trung quốc. Thương nhân người Hoa, Nhật Bản, Mă Lai, Thái Lan (Xiêm La), Phi
Luật Tân và các nước Tây Phương như Ḥa Lan, Tây ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp,
Anh,v.v...cũng đă vào ra buôn bán ở các cửa biển nước ta, đă làm cho Hội An (Quảng
Nam) và các nơi khác ở xứ Đàng Trong trở thành những thành phố thương măi sầm
uất.
Được tin cấp báo, Hiền Vương liền triệu tập một cuộc họp tại Huế để bàn về vấn
đề nầy. Các quan trong triều đă nhận định rằng:"Phong tục tiếng nói của họ đều
khác, khó bề sai dùng, nhưng họ bị thế cùng bức bách đến đây th́ không nỡ cự
tuyệt" (Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, bản Hán văn, quyển 6 tờ 14 b bản dịch của
Trần Vinh Anh, Lê Ngọc Bích, Nguyễn Đức Cung, Nguyễn Lư-Tưởng, nxb Khai Trí, Sài
G̣n, 1974 và Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, bản dịch, Hà Nội , 1962, q.5 trang
125).
Với lập luận trên, triều đ́nh chúa Nguyễn đă có hướng giải quyết là chấp thuận
cho họ vào tỵ nạn ở nước ta và được làm dân của chúa Nguyễn, phục vụ xứ Đàng
Trong. Tờ tŕnh của các quan tâu lên chúa Nguyễn có đoạn viết như sau:"Nay đất
Đông Phố, nước Chân Lạp, đồng ruộng ph́ nhiêu ngh́n dặm. Triều đ́nh chưa rỗi mà
kinh lư (khai thác, mở mang), chi bằng nhân lấy sức của họ cho đến khai thác để
ở, làm một việc mà lơi ba điều" (Đại Nam Thực Lục Tiền Biên, bản dịch, Hà Nội,
1962, q.5 tr.125). Chúa theo lời bàn, bèn đặt yến tiệc ủy lạo khen thưởng, trao
cho quan chức, khiến đến ở đất Đông Phố.
Họ đă được chúa Nguyễn cho vào khai phá vùng Bến Tre, Mỹ Tho, Chợ Lớn, Biên Ḥa...ngày
nay. Họ lập chợ ở bờ sông, mở ṣng bài, tổ chức hành chánh, kiểm tra dân số, thu
thuế ruộng, đất, thuế bến đ̣, thuế buôn bán để nuôi quân và nộp cho chúa Nguyễn.
Họ có công dẹp yên các cuộc nổi loạn của người Miên ở trong vùng. Thuyền buôn
Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến đến buôn bán, bà con người Hoa nghe tin t́m đến
lập nghiệp...đă biến vùng nầy thành một nơi trù phú. Về sau, phó tướng là Hoàng
Tiến nổi loạn giết chủ tướng là Dương Ngạn Địch để tranh quyền. Chúa Nguyễn ra
lệnh cho Nguyễn Hữu Cảnh, (Khâm Sai Kinh Lược ở Biên Ḥa) đem quân bắt Hoàng
Tiến giết đi, rồi đưa sĩ quan người Việt vào chỉ huy lính người Minh, cho lập ra
những làng dành cho người Hoa gọi là Minh hương.
Trần Thượng Xuyên, là người có công lớn trong việc b́nh định nước Chân Lạp, vào
sinh ra tử, nhiều trận đánh thắng người Miên, đem lại ổn định cho dân chúng. Sau
khi qua đời, dân những nơi ông đă đóng quân trấn nhậm, lập đền thờ để nhớ ơn.
Hiện nay tại Biên Ḥa và Vĩnh Long đều có đền thờ Trần Thượng Xuyên. Con trai
của ông là Trần Đại Định cũng đă phục vụ chúa Nguyễn và được phong làm Tổng binh,
là người trung thành, ngay thẳng, lập được nhiều công và cũng được ghi tên vào
sử sách.
Mạc Cửu ở Hà Tiên là người Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, trung thành với nhà Minh,
không chịu theo tập tục của nhà Thanh (Măn Châu), đem gia đ́nh theo đường biển
chạy về phương Nam, đến đất Sài Mạt nước Chân Lạp (Kampuchia), chiêu dụ người
Hoa, Mă Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Chân Lạp (Miên)...đến tụ tập buôn bán, bèn mở
ṣng bạc kiếm lời; lại gặp được hầm chôn giấu tiền bạc nên chẳng bao lâu trở nên
giàu có, bèn bỏ Sài Mạt đi đến xứ Phương Thành, chiêu dụ dân phiêu bạt các nơi
đến Phú Quốc, Cần Bột, Giá Khê, Luống Cày, Hương Úc, Cà Mâu lập được 7 xă. Nghe
đồn nơi ấy thường có tiên hiện ra trên sông nên đặt tên là Hà Tiên. Đất nầy dựa
vào núi, dọc theo biển có thể tụ tập bun bán làm giàu được.
Người nước Xiêm (Thái Lan) thường đến xâm phạm, dân Chân Lạp nghe giặc đến bèn
bỏ chạy, Mạc Cửu bất đắc dĩ phải xin hàng tướng Xiêm, được vua Xiêm cho ở tại
núi Vạn Tuế. Nhân nước Xiêm có nội biến, ông liền bỏ núi Vạn Tuế về đất Lũng Kỳ,
dân phiêu bạt về với ông mỗi ngày một đông. Nhận thấy đất Lũng Kỳ chật hẹp nên
ông dời về Phương Thành, dân buôn bán theo về với ông càng ngày càng đông, chẳng
mấy chốc đất Phương Thành càng ngày càng phồn thịnh.
Lúc bấy giờ chúa Nguyễn Phúc Chu (1691- 1725) đang cai trị xứ Đàng Trong,là
người văn vơ kiêm toàn, tiếng tăm lừng lẫy đến tận nhà Thanh và các nước Đông
Nam Á, người Trung Hoa, Nhật Bản và Âu Châu tới buôn bán tấp nập ở các cửa biển,
nhất là Hội An. Người Hoa và người Việt tuy khác tiếng nói nhưng cùng chung một
văn tự (chữ Hán) nên Mạc Cửu tuy ở xa mà cũng biết rơ tin tức. Nhân có người bạn
là Tô Quân, khuyên Mạc Cửu:"Người Chân lạp tính t́nh gian xảo, thiếu trung hậu,
nên theo về với chúa Nguyễn để vạn nhất có điều ǵ c̣n có chỗ nhờ cậy lâu dài".
Mạc Cửu nghe theo. Tháng 8 năm Mậu Tư (1708) tức năm thứ 17 đời chúa Nguyễn Phúc
Chu, Mạc Cửu cùng đàn em là Trương Cầu, Lư Xá mang lễ vật đến Huế yết kiến chúa
Nguyễn, dâng đất Hà Tiên. Nguyên đất nầy là do chính Mạc Cửu khai phá, xây dựng
nên. Chúa Nguyễn không nhọc công chinh chiến mà có, lại thấy bọn họ tướng mạo
oai hùng, tới lui cung kính và có ḷng trung thành bèn thu nhận đất mới nầy, đặt
tên là trấn Hà Tiên, phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh. Mạc Cửu được chúa Nguyễn
ban cho ấn kiếm, cờ hiệu, được quyền cai trị dân trên một dải đất bao gồm vùng
Hà Tiên, Châu Đốc, Rạch Giá, Long Xuyên, Cà Mâu...ngày nay. Chúa cho mở yến tiệc
khoản đăi rồi tiễn chân ra về. Mọi người đều hoan hỷ vui mừng.
Với danh nghĩa quan Tổng Binh của chúa Nguyễn, danh chính ngôn thuận, Mạc Cửu
cho xây thành quách, tổ chức quân đội, hành chánh, đặt quan cai trị tại địa
phương, xây dựng cơ sở, kiểm tra dân số, chiêu hiền đăi sĩ, đón tiếp nhân tài,
tổ chức làng mạc, khai khẩn đất hoang...dân chúng theo về mỗi ngày một đông,
chẳng bao lâu Hà Tiên trở thành phố thị phồn hoa, đô hội. Ông mất năm 1735,
hưởng thọ 80 tuổi. Ông là người đă đóng góp công lao rất lớn cho việc b́nh định
mở mang vùng Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau ngày nay, được tặng
chức Nhai trấn Thượng trụ quốc Đại tướng quân Vơ nghị công, năm 1823 dưới thời
vua Minh mạng, ông được phong Thuận Nghĩa Trung Đẳng Thần, cho phép dân xă Mỹ
Đức ở Hà Tiên được thờ tự như cũ.
Con ông là Mạc Thiên Tứ, một người văn vơ song toàn vừa là danh tướng đánh Đông
dẹp Bắc, giữ vững giang sơn, mở rộng bờ cơi; vừa là nhà thơ, nhà văn, đă lập ra
Chiêu Anh các tiếp đăi nhân tài, có tác phẩm Hà Tiên Thập Vịnh để lại cho đời
sau. Khi Tây Sơn nổi lên, chúa Nguyễn bị giết, ông theo pḥ chúa Nguyễn Phúc Ánh
lưu lạc qua Xiêm, bị người Xiêm bắt giam và chết trong tù.
Họ Mạc v́ trung thành với nhà Minh, không chịu làm tôi người Măn Châu (nhà Thanh),
đă bỏ nước ra đi đến quy thuận chúa Nguyễn và trải qua nhiều đời trấn giữ vùng
biên cương, vào sinh ra tử, mở mang bờ cơi, xây dựng phố chợ, làng mạc làm cho
đất Hà Tiên trở nên phồn thịnh. Họ Mạc đă tận trung với chúa Nguyễn, một ḷng
chết sống với quê hương dân tộc Việt Nam
Người Hoa đối với nước ta thời đó, tuy ngôn ngữ bất đồng nhưng cùng chung một
văn tự (chữ hán) nên việc giao thiệp giữa họ với ta không khó khăn lám. Sống ở
nước ta một thời gian, họ dần dần hiểu và nói được tiếng Việt, trải qua một hai
thế hệ, con cháu của họ đă thực sự trở thành người Việt.
Trong cuộc Nam tiến, người Việt đă không đi sâu vào vùng Rừng Lá (là vùng đất
dọc theo quốc lộ I từ Phan Thiết đến Long Khánh ngày nay) theo kiểu tằm ăn dâu,
mà lại theo đường biển xâm nhập vùng Bà Rịa, Đồng Nai, Bến Tre, Mỹ Tho, Vĩnh
Long, Cần Thơ, Long Xuyên...
Sau khi Sài G̣n, Gia Định, Biên Ḥa đă thuộc về người Việt th́ vùng Rừng Lá
đương nhiên là phần lănh thổ của nước ta. Nhưng măi cho đến giữa thế kỷ 19, khi
người Pháp ḍm ngó nước ta th́ vùng nầy mới được khai thác. Đầu thế kỷ 20, khi
thực dân Pháp mở mang quốc lộ I nối liền Sài G̣n với Phan Thiết th́ vùng nầy
càng phát triển mạnh nhất là ngành khai thác gỗ và lập các đồn điền cao su, cà
phê và trồng cây ăn trái... Sau 1954, dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, chính
quyền Việt Nam Cộng Ḥa đă đưa dân từ miền Trung và miền Bắc vào và nhất là sau
1975, khi đất nước ḥa b́nh toàn bộ vùng nầy, từ bờ biển cho đến tận rừng sâu đă
tràn ngập người Việt đến định cư, sinh sống.
(2) Sài G̣n là thành phố quan trọng nhất về kinh tế, văn hóa, chính trị của nước
Việt Nam, là thành phố quốc tế, thành phố đa văn hóa gồm đủ mọi sắc dân, mọi
ngôn ngữ: nơi mọi người được sống hạnh phúc, yên ổn làm ăn, nơi đất lành chim
đậu, nơi mọi người mơ ước, t́m đến lập nghiệp...Sài g̣n là trục giao thông quốc
tế: đường bộ, đường biển, đường hàng không. Trong thế kỷ 18 (năm Canh Tuất
1790), thành Gia Định được chúa Nguyễn Phúc Ánh gọi là Kinh Thành; trong thế kỷ
thứ 19, thời Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn, Sài G̣n được sánh ngang hàng với Băng
Cốc, thủ đô nước Xiêm (Thái Lan), Sài G̣n được gọi là "Ḥn Ngọc Viễn Đông"...Từ
năm 1862 trở đi, sau khi ba tỉnh Miền Đông Nam Kỳ bị quân Pháp chiếm đóng, các
cuộc cải cách giáo dục, các Phong Trào học chữ Quốc ngữ (thay v́ học chữ Hán,
chữ Nôm) và sách báo, tiểu thuyết viết bằng tiếng Việt đầu tiên ở nước ta đă
được phát động từ Sài G̣n với các nhà trí thức Tây học như Trương Vĩnh Kư, Huỳnh
Tịnh Của,v.v.(Gia Định báo, viết bằng chữ Quốc ngữ, xuất bản tại Sài G̣n năm
1865, do Trương Vĩnh Kư làm chủ bút) Trong khi đó, tại Hà Nội măi đến 52 năm sau
mới có báo tiếng Việt (báo Nam Phong do Phạm Quỳnh chủ trương, ra đời năm 1917)!
Các nhà trí thức Sài G̣n (Miền Nam) cổ động phong trào học chữ Quốc ngữ thay chữ
Hán, chữ Nôm cũng như viết văn, viết báo, làm sách tiểu thuyết, dịch truyện Tàu...trước
các cuộc vận động học chữ Quốc ngữ và viết văn tiếng Việt tại Miền Trung và Miền
Bắc trên nửa thế kỷ!
Sài G̣n là đất mới nhưng đă được xây dựng và phát triển qua nhiều đợt để trở
thành một thành phố lớn và quan trọng nhất Việt Nam. Tên Sài G̣n luôn luôn được
mọi người nhắc nhở, sử sách ghi chép, nói đến Sài G̣n là nói đến Miền Nam...Tên
Sài G̣n măi măi tồn tại với lịch sử của dân tộc Việt Nam...
Chúng tôi xin trích dẫn một vài sử liệu từ thế kỷ thứ 18 đến nay ghi lại h́nh
ảnh Sài G̣n-Gia Định ngày xưa để biết công lao của những ai đă làm cho Sài G̣n
trở thành "Ḥn Ngọc Viễn Đông":
-Sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ I Kỷ, bản dịch của Viện Sử Học Hà Nội,
1963, trang 112 ghi lại công tác xây thành Gia Định vào năm Canh Tuất (năm) dưới
thời chúa Nguyễn Phúc Ánh như sau:
"Thành đắp theo kiểu bát quái, mở tám cửa, ở giữa là cung điện, bên tả dựng nhà
Thái miếu, phía sau miếu là kho tàng, bên hữu đặt cục chế tạo, chung quanh là
nhà tranh cho quân túc vệ ở. Giữa sân dựng kỳ đài ba tầng, trên làm ṭa vọng đẩu
bát giác, ban ngày kéo cờ, ban đêm th́ kéo đèn làm hiệu cho các quân. Thành xây
xong gọi tên là kinh thành Gia Định...Tám cửa thành đều xây bằng đá ong, phía
Nam là cửa Càn nguyên và cửa Ly minh, phía Bắc là cửa khôn hậu và cửa Khảm hiểm,
phía Đông là cửa Chấn hanh và cửa Cấn chỉ, phía Tây là cửa Tốn thuận và cửa Đoài
duyệt. Ngang dọc có 8 đường, Đông sang Tây dài 131 trượng 2 thước, Nam sang Bắc
cũng thế, cao 13 thước, chân dày 7 trượng 5 thước. Phía ngoài thành là hào, hào
rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước, có cầu treo bắc ngang. Chu vi ngoài thành
là 794 trượng. Ở ngoài là đường phố chợ búa, dọc ngang la liệt đều có thứ tự.
Hai bên đường quan đều trồng cây thích nghi, gọi là đường thiên lư"
(Chú thích: Ṭa vọng đẩu bát giác là xây theo kiểu bát giác không có mái che. Có
mái th́ gọi là vọng lâu).
Năm 1822 một phái đoàn Anh Quốc do ông Crawfurd dẫn dầu có đến yết kiến tả quân
Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia Định. Trong dịp nầy, Crawfurd đă có nhận xét như sau:
"Đây là lần đầu tiên tôi tới Saigun (Sài G̣n) và Pingeh (Bến Nghé). Và tôi bất
ngờ thấy rằng nó không thua ǵ kinh đô nước Xiêm. Về nhiều mặt, trông nó c̣n sầm
uất hơn, không khí mát mẻ hơn, hàng hóa phong phú hơn, giá cả hợp lư hơn và an
ninh ở đây rất tốt, hơn nhiều kinh thành mà chúng tôi đă đi qua. Tôi có cảm giác
như đây là một vương quốc lư tưởng" (Trích Nguyễn Thanh Liêm: T́m hiểu văn hóa
Đồng Nai- Cửu Long, đăng trên tập san T́m Hiểu Văn Hóa Đồng Nai- Cửu Long, số 2,
trang 31)
Crawfurd cũng đă nhận xét về sinh hoạt của thành phố Sài G̣n dưới thời Lê Văn
Duyệt, như sau:
"Thành phố Saigun (Sài G̣n) không xa biển, có lẽ cách độ 50 dặm; thành phố
Pingeh (Bến Nghé) gần đó cách thành phố Saigun (Sài G̣n) độ 3 dặm. Dinh tổng
trấn khá đồ sộ và uy nghiêm. Các thành tŕ nằm ở bờ sông An Thông Hà. Nơi đây
buôn bán sầm uất. Dân xiêu tán tới đây được tổng trấn cho nhập hộ tịch, qua một
hai đời đă trở thành người Gia Định. Đông nhất nơi đây là dân Trung Hoa. Các dân
tộc nơi đây được nhà nước bảo hộ và họ đều có nghĩa vụ như nhau. Tất cả đều được
sống trong bầu không khí an lành. Trộm cướp không có. Người ăn mày rất hiếm.
Tổng trấn rất nhân từ, tha thứ cả bọn giặc, bọn phỉ, bọn trộm cướp ăn năn. Nhưng
ông lại rất tàn bạo với bọn cố t́nh không chịu quy phục triều đ́nh. Chưa ở đâu
kỷ cương phép nước được tôn trọng như ở đây. Một vị quan nhỏ ra đường ghẹo gái
cũng bị cách chức lưu đày. Một đứa con vô lễ chửi mẹ, tổng trấn biết được cũng
bị phạt rất nặng.
"Ở đây chúng tôi mua được rất nhiều lúa gạo, ngà voi, sừng tê giác, các hàng tơ
lụa, đũi thật đẹp. Từ các nơi, dân đi thuyền theo các kênh rạch lên bán cho
chúng tôi. Nh́n dân chúng hân hoan vui vẻ, chúng tôi biết dân no đủ. Nhiều người
rất kính trọng vị tổng trấn của họ.
"Con người này ít học. Nhưng lạ lùng thay là có được cái nh́n cởi mở hơn những
đại thần và cả nhà vua học rộng, làu kinh sử của Khổng Giáo. Ngài sống thanh
liêm, muốn mở mang đất Gia Định này trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng
Biển Đông" (sđd, trang 32)
Năm 1863, Phạm Phú Thứ đi theo phái đoàn Phan Thanh Giản vào Sài G̣n để đi qua
Pháp thương lượng chuộc lại 03 tỉnh miền Đông Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng dưới
thời vua Tự Đức. Ông đă có nhận xét về thành phố Sài G̣n vào thời đó như sau:
"Trước dinh soái phủ, bên kia đường đi là nơi làm việc của tham biện (1). Bên
tay mặt, cách vài trăm trượng, xây sở xem xét khí hậu (2); bên tay trái là nhà ở
của các quan tham tán (3) và lănh binh. Tiếp theo đó là kho thuốc súng. Cách
chừng một dặm, ở phía trước và bên trái là băi tập bắn súng tay (4). Sau dinh
soái phủ, dựng một vọng gác, trên nhọn, dưới vuông, chân rộng vài trượng, cao
đến năm thước, rỗng ở giữa và có xây bậc thoai thoải, giống h́nh kỳ đài. Xa một
chút, bên tay mặt và bên tay trái dinh (5) là trụ sở của phủ Tân B́nh. Phía Đông
Bến Nghé là kho, gồm hơn mười dăy nhà lợp bằng lá "phạn cái" (6), chứa gỗ, sắt
cùng mọi vật liệu kềnh càng. Kế theo là trại lính và xưởng sửa chữa thuyền sắt
và kế theo nữa là kho chưa than đá. Phía Tây Bến Nghé, là nhà ở của các quan bố
chính, án sát Tây và nhà ở của sở cảng; ngoài chỗ ở của quân ra, tùy theo vùng
đất, người ta chia ra từng khu, nơi này th́ xây dựng phố xá, nhà tầng cho những
người buôn bán và nơi kia th́ vét cửa, đào mương hoặc làm đường, đắp lộ. Các thứ
cơ xảo của phương Tây như máy luyện thép, máy xay bột máy điện lôi để truyền
tin, đều đă được dùng."
(trích Nhật Kư Đi Tây của Phạm Phú Thứ, bản dịch của Quang Uyển, nhà xuất bản Đà
Nẵng, 1999, trang 58)
Chú thích: (1) inspecteur des affaires indigènes (2) đài khí tượng (chiêm hậu sở)
(3) tham mưu (4) pháo thủ trường (5) tức dinh soái phủ (6) tre hay dừa nước
Năm 1894 (Thành Thái thứ 6), nhân dịp Toàn quyền De Lanessan về Pháp, Hoàng Cao
Khải, đang giữ chức Phụ chính đại thần, Thái tử thiếu bảo, Vơ hiển điện đại học
sĩ, Khâm sai Bắc Kỳ kinh lược đại sứ tước Diên mậu tử, hiệu Thái Xuyên...từ Huế
vào Gia Định để tŕnh bản dự thảo thỏa ước...lần đầu tiên được đặt chân lên đất
Sài G̣n - Gia Định, đă phải ngạc nhiên khâm phục sự trù phú, thịnh vượng của
miền Nam:
"Đất Gia Định nguyên là đất của bản triều từ thời long hưng (thời dựng nghiệp
của nhà Nguyễn), từ ngày thuộc quyền cai trị của nước Pháp, kể đă hơn 30 năm rồi,
xe thuyền kéo đến như góp gió, bến đ̣, đường sá, quán chợ được mở mang mỗi ngày
một đẹp đẻ, thấy được sự tươi tốt sầm uất"
(trích văn bia của Lê Văn Duyệt do Hoàng Cao Khải lập ngày 1 tháng 8 năm 1894
tức 1 tháng 7 năm Giáp Ngọ, Thành Thái thứ 6, nguyên bản Hán văn, do Nguyễn
Lư-Tưởng dịch ra quốc văn, đăng trong sách Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai, 2003,
trang 85).
Và đây, tâm t́nh của một học sinh từ Bắc di cư vào SàiG̣n năm 1954, đă so sánh
Sài G̣n với các thành phố lớn của Miền Bắc như sau:
"Tôi vốn là một cậu bé Bắc Kỳ, ngây ngô, theo gia đ́nh vào Nam năm 1954, người
lớn gọi đó là cuộc di cư tránh nạn Cộng Sản, c̣n tôi, vời tuổi 12 lúc đó, chỉ
đơn thuần cho là một cuộc phiêu lưu hứa hẹn nhiều lư thú. Quê tôi là một làng
ngoại ô thành phố Hải Pḥng, hàng ngày tôi cuốc bộ khoảng 2 cây số lên tỉnh học,
cuộc sống nửa, tỉnh nửa quê đă cho tôi được nh́n những văn minh của đời sống
thời đó, nghĩa là không lạ lùng ǵ với những máy móc, xe cộ,v.v....nhưng khi
biết được gia đ́nh tôi sẽ di cư vào Nam, ḷng tôi vẫn cứ nôn nao khi nghĩ rằng,
mai kia tôi sẽ được đến Sài G̣n, lúc đó có mỹ danh là "Ḥn Ngọc Viễn Đông", mà
theo lời của một vị Linh Mục quen với gia đ́nh tôi, đă có dịp ghé qua kể lại,
th́ Sài G̣n là một thành phố đèn điện sáng suốt đêm, xe taxi, xe xích lô máy
chạy như mắc cưỡi, người b́nh dân th́ có xe buưt, cứ năm mười phút lại có một
chuyến, sự đi lại ngày đêm tấp nập. Đúng là nơi phồn hoa đô hội. Ngoài ḷng háo
hức muốn sớm biết một thành phố nổi tiếng ra, tôi không c̣n một ư nghĩ nào
khác"(Nguyễn Văn Học, tập san Biệt Động Quân số 17, phát hành tại California Hoa
Kỳ, tháng 4/2006, trang 10)
Không phải chỉ có thế hệ 1954 mới mơ ước được thấy tận mắt Thành phố Sài G̣n mà
ngay sau 1975, biết bao thanh niên, cán bộ, chiến sĩ, đồng bào ở Miền Bắc cũng
mơ ước được đi vào Nam một chuyến cho biết Sài Goin. Người Miền Bắc được đặt
chân đến Sài G̣n cũng như được đi ra ngoại quốc vậy!
Trước 1954, mặc dù đất nước đang ở trong t́nh trạng chiến tranh, nhưng Sài G̣n
vẫn như hồi thái b́nh, không bị Việt Minh phá hoại. Từ 1954 trở về sau, dưới
thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cũng như thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nói
chung là dưới chế độ Việt Nam Cộng Ḥa, Sài G̣n càng phát triển hơn nữa. Nếu kể
từ thời các chúa Nguyễn cho đến 1975, trải qua hàng mấy trăm năm với hàng triệu
triệu người đă góp công sức mồ hôi và cả xương máu của ḿnh để mở mang, xây dựng
Miền Nam, xây dựng Sài G̣n xứng với tên "Ḥn Ngọc Viễn Đông".
(3) -Hồ Chí Minh có công ǵ, đảng Cộng Sản có công ǵ đối với Sài G̣n và Miền
Nam? Trước mắt, Cộng Sản chỉ có phá hoại, đốt nhà, giết người, pháo kích, đặt
ḿn, ăn cướp nhà cửa, tài sản của dân chúng, cướp đi cuộc sống yên lành và ngay
cả tính mạng của dân chúng.
-Sài G̣n là tượng trưng cho Miền Nam. Xóa bỏ tên Sài G̣n là phủ nhận công lao
của hàng triệu triệu người, trải qua hơn ba trăm năm, với biết bao thế hệ đă đổ
mồ hôi, xương máu, góp công khai phá miền Đồng Nai-Cửu Long, xây dựng và bảo vệ
Miền Nam.
-Ngày 30-04- 1975: Việt Nam Cộng Ḥa bị bức tử th́ Sài G̣n bị đổi tên. Vận mệnh
của TP Sài G̣n đi liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam.
Trong lịch sử Việt Nam từ xưa tới nay chưa hề có sự kiện "người Việt Nam bỏ nước
ra đi", dù trải qua một ngàn năm bị người Tàu đô hộ hay gần 80 năm dưới chế độ
thực dân Pháp. Trước đây khi có sự thay đổi chế độ, thay đổi triều đại, thay đổi
người cai trị th́ người Việt vẫn sống trên quê hương của ḿnh. Ngay cả khi bị
ngoại quốc xâm lăng, người Việt vẫn không bỏ quê hương. Chỉ có dưới chế độ Cộng
Sản mới có chuyện "bỏ nước ra đi" chấp nhận chết để đổi lấy tự do.
-Biến cố năm 1945, Việt Minh (Cộng Sản) lên nắm chính quyền, dẫn đến cuộc di cư
năm 1954 của cả triệu người Việt Nam bỏ nhà cửa, tài sản, bà con họ hàng, mồ mả
tổ tiên, bỏ quê hương Miền Bắc để di cư vào Miền Nam.
-Biến cố 30/4/1975, to lớn hơn, bi đát hơn biến cố 1954: hàng triệu người bỏ
nước ra đi, t́m đường thoát khỏi chế độ Cộng Sản bằng đủ mọi phương tiện: máy
bay, tàu thủy, ghe thuyền. Một số lớn đă chết trên sông, trên biển, trong rừng;
bị bắt, bị hành hạ trong các trại giam, bị chính quyền Cộng Sản tịch thu hết tài
sản, bị hải tặc cướp của, giết người, hăm hiếp...Họ chấp nhận sự nguy hiểm, hy
sinh cả tính mạng để đổi lấy tự do. Báo chí thường gọi họ là những "thuyền nhân".
-Những người ở lại trong nước không phải v́ chấp nhận chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng
v́ không có cách nào thoát được, nên dành phải ở lại. Câu chuyện kể: có một
người mù vượt biên, bị bắt. Công an Việt cộng hỏi ông:"Tại sao ông đă mù rồi mà
c̣n vượt biên làm ǵ?" Người ấy trả lời:"Nếu cái cột đèn mà đi được th́ nó cũng
ra đi!"
-Những người tin vào t́nh huynh đệ, t́nh đồng bào, tin tưởng vào lời hứa hẹn và
chính sách 12 điểm của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (công cụ của Cộng Sản Bắc
Việt trá hàinh), tin tưởng vào chính sách "Ḥa hợp ḥa giải dân tộc"...đă buông
súng đầu hàng để được "hưởng sự khoan hồng", hy vọng "được làm một người dân
lương thiện trong xă hội", "được làm lại cuộc đời"...kết cuộc vẫn bị đày đọa
trong các trại tù mệnh danh là "Trại Cải Tạo". Một số đă chết v́ bị đày đọa ở
những nơi rừng thiêng nước độc, v́ bị bắt buộc phải lao động khổ sai, thiếu ăn,
thiếu mặc, thiếu thuốc men...Nhiều người đă chết trong cảnh cô đơn lạnh lùng,
chết không được thấy mặt cha mẹ, vợ con...Ngay cả những bậc tu hành, tín đồ của
các tôn giáo, cán bộ của các chính đảng đối lập với Cộng Sản, nhà văn, nhà báo,
trí thức, thanh niên, sinh viên, học sinh,v.v...v́ lên tiếng đ̣i hỏi tự do tôn
giáo, dân chủ, nhân quyền mà bị đàn áp, giam cầm, giết hại...đến những thành
phần buôn bán, làm nghề tự do để sinh sống cũng bị chung số phận dưới danh nghĩa
"diệt tư sản mại bản" hoặc bị chụp mũ "Tay sai CIA"
Con số người Việt Nam tỵ nạn hiện nay trên thế giới vào khoảng 03 triệu người,
riêng tại Hoa Kỳ có khoảng 2 triệu người (tính luôn những người sinh ra và lớn
lên tại hải ngoại sau 1975): trong đó có những người vượt biên, được bảo lănh
đoàn tụ, được định cư theo diện cựu tù nhân chính trị (mà chúng ta quen gọi là
diện H.O), du học hay đi lao động tại các nước xă hội chủ nghĩa (Đông Âu và Liên
Xô) rồi xin tỵ nạn sau khi chế độ Cộng Sản tại các nước đó sụp đổ.
(4) -Đ̣i trả lại tên Sài G̣n có nghĩa là đ̣i lại các quyền Tự Do Dân Chủ đă mất
Chúng ta biết hiện nay tại Sài G̣n không c̣n tên đường Tự Do và đường Công Lư
vốn đă có trước 1975. Điều đó có nghĩa là dưới chế độ Cộng Sản th́ không có Tự
Do và Công Lư.
Trong các quyền tự do của con người th́ quyền Tự Do Về Tôn Giáo và Quyền Tự Do
về Chính Trị là quan trọng nhất.
Quyền Tự Do Tôn Giáo.
Con người có những nhu cầu về vật chất và tinh thần như ăn mặc, nhà ở, giải trí,
văn chương, nghệ thuật, triết lư, chính trị...và cao hơn tất cả các nhu cầu đó
là Tôn Giáo. Vậy Tôn Giáo là phần cao nhất trong sinh hoạt tinh thần của con
người.
-Cộng Sản tự cho rằng ḿnh là ưu việt và chủ trương tiêu diệt, loại bỏ tất cả
các tư tưởng khác ngoài chủ nghĩa Cộng Sản để chủ nghĩa Cộng Sản được độc tôn.
-Cộng Sản cho rằng TÔN GIÁO là thuốc phiện, là ru ngủ, là lừa dối và khôgn chấp
nhận cho tôn giáo được tồn tại. Do đó, họ đă đưa ra mọi chủ trương, chính sách
nhằm tiêu diệt tôn giáo hoặc biến tôn giáo thành tay sai của họ. Tại Liên Xô, từ
khi Cộng Sản lên nắm chính quyền năm 1917 cho đến 1991 (khi chế độ Cộng Sản sụp
đổ) cũng như tại các nước Cộng Sản khác...đảng Cộng Sản ra sức ngăn cấm, đàn áp
dă man các nhà lănh đạo hoặc tín đồ của các tôn giáo, tịch thu tài sản, nơi thờ
tự, các cơ sở văn hóa giáo dục, y tế xă hội như: nhà thờ, chùa chiền, thánh thất,
đền miếu, tu viện, trường học, bệnh viện, nhà nuôi trẻ mồ côi,v.v...Họ cài cán
bộ vào các tổ chức tôn giáo, mua chuộc và biến người của tôn giáo thành tay sai
(chúng ta thường gọi các thành phần nầy là giáo gian, là quốc doanh...)Cộng Sản
luôn gây khó khăn cho các tôn giáo trong vấn đề điều hành các Giáo Hội.
-Tại Việt Nam hiện nay chỉ có tôn giáo là có thể quy tụ được quần chúng, tạo
được sức mạnh để đứng lên lật đổ chế độ Cộng Sản. Tại Việt Nam, nếu không có sự
hiện diện của các tôn giáo, vào nếu người dân không c̣n niềm tin vào tôn giáo
th́ chủ nghĩa Cộng Sản đă hoàn toàn thành công và nền văn hóa, đạo đức của tổ
tiên chúng ta đă bị tiêu diệt từ lâu rồi. Nếu các tôn giáo biết cảnh giác trước
âm mưu chia rẽ của Cộng Sản và biết đoàn kết lại với nhau th́ có thể tạo được
sức mạnh cứu nước, cứu dân.
Quyền Tự Do Chính Trị
Muốn có dân chủ th́ phải có sinh hoạt chính trị dân chủ. Chính đảng đóng vai tṛ
quan trọng trong sinh hoat chính trị của một chế độ dân chủ. Không có đối lập
th́ khôgn có dân chủ. Do đó, chính đảng đối lập phải được quyền tự do hoạt động
hợp pháp. Đối lập kiểm soát chính quyền một khi chính quyền sai lầm hoặc không
thực thi dân chủ cho người dân. Trong Quốc Hội phải có đại diện của phe đối lập
để có tiếng nói chỉ trích phê b́nh, kiểm soát Hành Pháp (Chính Quyền) trong việc
thi hành chính sách quốc gia.
Quyền Tự Do Ngôn Luận là phương tiện để kiểm soát chính quyền: sách vở, báo chí,
các cơ quan truyền thông là phương tiện phản ảnh dư luận quần chúng, nói lên
những nguyện vọng của dân cũng như những sai lầm của chính quyền. Do đó, quyền
tự do sinh hoạt chính trị phải đi đôi với quyền tự do ngôn luận.
Trong một chế độ dân chủ: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp là tam quyền phjân lập,
hoàn toàn phân biệt và hoàn toàn độc lập được dân bầu lên để đại diện cho quyền
lănh đạo tối cao của quốc gia. Ngoài ba cơ quan nầy, không có một chính đảng nào
giữ độc quyền lănh đạo đất nước.
Người công dân được Hiến Pháp và Luật Pháp bảo vệ. Mục đích của Luật Pháp không
phải để hành hạ, trừng trị, làm khó dễ người dân, khiến cho mọi người cảm thấy
quá khốn khổ khi phải sống dưới chế độ hiện tại. Luật pháp phải được thực thi
một cách công bằng, không phân biệt người có địa vị trong chính quyền hay người
công dân lương thiện. Bất cứ ai vi phạm Pháp Luật, làm điều trái th́ phải bị
Luật Pháp trừng trị. Đó là v́ mục đích bảo vệ cho người công dân trong quốc gia,
trong cộng đồng xă hội.
Tại Việt Nam hiện nay, đảng Cộng Sản chủ trương độc tài, không có chính đảng đối
lập, là đi ngược lại với quyền tự do chính trị, đi ngược lại với khát vọng tự do
dân chủ của con người.
Luật pháp của Cộng Sản VN được viết ra với mục đích lừa dối, thực tế không được
thi hành. Việc áp dụng Luật Pháp tại Việt Nam hiện nay, trên thực tế chỉ là Luật
Rừng không có trong Hiến Pháp hay Luật Pháp. V́ luật pháp bất công nên người dân
không tôn trọng. Do đó, dù Luật Pháp có chặt chẽ, có khắt khe mấy đi nữa vẫn
không áp dụng được. Trong một xă hội, người dân biết tôn trọng luật pháp, được
Hiến Pháp và Luật Pháp bảo vệ, th́ xă hội được ổn định và người dân được hưởng
các quyền tự do dân chủ.
(5)- Đặt vấn đề "Trả lại tên Sài G̣n" trong lúc nầy có ư nghĩa ǵ?
-Đảng Cộng Sản Việt Nam do Hồ Chí Minh đẻ ra.
-Toàn bộ đảng viên Cộng Sản Việt Nam đều gọi Hồ Chí Minh bằng Bác và xem cái tên
Hồ Chí Minh c̣n lớn hơn đảng Cộng Sản Việt Nam. Có người nói: Đảng Cộng Sản Việt
Nam đă từng đổi tên là Đảng Lao Động Việt Nam v́ thế có thể xóa bỏ tên Đảng Cộng
Sản Việt Nam, nhưng không thể xóa bỏ tên Hồ Chí Minh được!
-Nếu chúng ta đ̣i xóa bỏ tên Thành phố Hồ Chí Minh mà Cộng Sản Việt Nam không
chịu th́ phải làm sao?
-Câu trả lời: Năm 1991, Cộng Sản Liên Xô bị sụp đổ th́ Thành phố mang tên Lénine
cũng không c̣n (Léningrad đă bị xóa tên để trả lại tên cũ là Thành phố
Peterbourg). Như vậy, khi nào chế độ Cộng Sản Việt Nam bị sụp đổ th́ tên Thành
phố Hồ Chí Minh cũng đương nhiên không c̣n.
-Vậy khi nào Cộng Sản Việt Nam sụp đổ? (Có hai trường hợp: a/-Khi người Cộng Sản
ư thức được phải tự ḿnh thay đổi, từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản độc tài và thành tâm
thực thi các quyền tự do dân chủ cho dân. b/-Toàn dân đứng lên cùng tranh đấu
lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam).
-Muốn tranh đấu th́ phải có sức mạnh. Muốn có sức mạnh th́ phải đoàn kết với
nhau. Yếu tố làm cho mọi người đoàn kết, chịu ngồi lại với nhau là phải thương
yêu nhau, giữ chữ Tín, chân thành hợp tác, không nghi ngờ nhau. Chúng ta có muốn
làm điều đó hay không? -Chúng ta hăy tự vấn lương tâm của ḿnh!
-Nhưng thật sự Sài G̣n có bị mất tên hay không? (Chị Nhă Ca nói "Sài G̣n không
mất tên". Tôi cũng nói "Sài G̣n không mất tên". Sài G̣n vẫn c̣n măi trong sử
sách và trong ḷng mọi người: ở trong nước, ở hải ngoại.
Hiện nay chủ nghĩa Cộng Sản không c̣n là một lư tưởng cho tuổi trẻ nữa. Nó cũng
không c̣n là lư tưởng đối với người Cộng Sản nữa! Tại sao? -V́ người Cộng Sản đă
đánh mất lư tưởng của họ từ lâu rồi! Hiện nay họ tranh đấu chỉ v́ quyền lợi, v́
tài sản mà họ vơ vét được, ăn cướp được của dân. Họ tranh đấu để bảo vệ địa vị
và những độc quyền mà họ đang có trong tay...Từ trên xuống dưới bao che nhau,
tham nhũng, bóc lột, ăn cắp, ăn cướp...Có phương tiện trong tay, họ tha hồ hưởng
thụ, sống tôn sùng vật chất, không c̣n luân lư đạo đức...Chưa bao giờ dân tộc
Việt Nam chúng ta sống trong nỗi đau khổ và nhục nhă như bây giờ!
Trong cuộc đấu tranh để xóa bỏ chế độ Cộng Sản th́ cuộc đấu tranh cho Tự Do Tôn
Giáo là quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất, bền bỉ nhất. Hàng trăm năm trước, dân tộc
Việt Nam đă đấu tranh giành độc lập, chống bất công, đ̣i tự do tôn giáo cho ḿnh
rồi. Đặc biệt dưới chế độ Cộng Sản từ 1975 đến nay, cuộc chiến đấu cho tự do tôn
giáo, dân chủ và nhân quyền vẫn c̣n tiếp tục từ thế hệ này qua thế hệ khác, ở
trong nước, ở hải ngoại...Không nơi nào mà không có ngọn lửa đấu tranh, không
thời điểm nào mà không có những người yêu nước, yêu tự do, đứng lên đấu tranh
chống lại chế độ Cộng SảnViệt Nam. Không kể già trẻ, nam giới hay phụ nữ, người
thành thị hay người thôn quê, kể cả người dân tộc thiểu số...đều đă dấn thân vào
cuộc tranh đấu nầy. Có biết bao người yêu nước, biết bao nhà lănh đạo các tôn
giáo, tu sĩ và tin đồ bị bắt, bị giam cầm. Nhiều người bị đem ra xử tử hay bị
chết v́ đau ốm, v́ bị đày đọa trong các trại tù...Phong trào tranh đấu cho tự do
tôn giáo, dân chủ và nhân quyền là của tất cả mọi người chúng ta, của dân tộc
Việt Nam chúng ta. Phong trào đó không bao giờ chết!
Kết luận
H́nh thể nước ta giống con rồng, đầu ở Miền Bắc, đuôi ở Miền Nam. Miền Bắc thuộc
thủy, Miền Nam thuộc hỏa. Thủy và Hỏa luôn xung khắc. Các triều đại Lư, Trần, Lê...đặt
thủ đô tại Thăng Long (Hà Nội) th́ trtên bán đảo h́nh chữ "S" nầy lúc đó có tất
cả ba quốc gia với ba ông vua khác nhau: Miền Bắc của người Việt Nam, Miền Trung
là nước Chiêm Thành và Miền Nam là nước Chân Lạp.
Khi nhà Lư nhà Trần bắt đầu cuộc Nam tiến, đến nhà Lê th́ người Việt chiếm được
Miền Trung cho đến Phú Yên. Nhưng trên thực tế th́ Miền Trung vẫn chưa được b́nh
định một cách trọn vẹn. Sau đó xảy ra biến cố nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê, ông
Nguyễn Hoàng Dụ đem quân Thanh Hóa chống nhà Mạc, rồi Nguyễn Kim (con của Nguyễn
Hoằng Dụ) lập Lê Trang Tông, con cháu nhà Lê lên làm vua ở Thanh Hóa để chống
nhà Mạc. Như vậy là trên dải đất h́nh chữ "S" nầy vẫn có ba ông vua: Nhà Mạc ở
Miền Bắc, nhà Lê ở Miền Trung và Chân lạp ở Miền Nam.
Năm 1592, Trịnh Tùng chiếm được Thăng Long, dứt được nhà Mạc th́ sau đó, Nguyễn
Hoàng độc lập ở Miền Trung và chúa Nguyễn Phúc Nguyên (con của Nguyễn Hoàng)
công khai chống lại vua Lê, chúa Trịnh, tự ḿnh tổ chức triều đ́nh, có quân đội,
có lănh thổ, có dân riêng. Thực tế giang sơn của chúa Nguyễn là một quốc gia độc
lập. Như vậy trên mảnh đất h́nh chữ "S" nầy vẫn có ba quốc gia với ba ông vua
khác nhau: vua Lê chúa Trịnh, chúa Nguyễn và vua Chân Lạp (Miên).
Khi Tây Sơn khởi nghĩa, diệt được họ Nguyễn, rồi kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh (vua
Lê) th́ nước Việt Nam vẫn có ba ông vua: vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) với lănh
thổ từ đèo Hải Vân ra Bắc. Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) với lănh thổ từ Quảng Nam
đến B́nh Thuận (Phan Thiết) và Đông Định Vương (Nguyễn Lữ) ở Gia Định. Nhưng
chính trong thời gian Quang Trung xưng đế hiệu, kéo quân ra diệt quân xâm lăng
nhà Thanh ở đất bắc (1789) th́ Nguyễn Phúc Ánh đă chiếm lại toàn bộ đất Gia Định
(Miền Nam), đuổi Nguyễn Lữ chạy về Quy Nhơn và từ đó, Nguyễn Phúc Ánh có lănh
thổ, có dân, có quân đội và triều đ́nh riêng tại Gia Định cho đến ngày chiếm lại
Phú Xuân (1801) và thống nhất đất nước (1802). Nhiều người lầm tưởng anh em Tây
Sơn đă thống nhất đất nước. Điều đó hoàn toàn sai.
Sau khi Gia Long lên ngôi vẫn để cho Việt Nam có ba chế độ riêng biệt: Nguyễn
Văn Thành toàn quyền ở Miền Bắc, Lê Văn Duyệt toàn quyền ở Miền Nam. Gia Long
đóng đô ở Huế, vua ngồi ở giữa theo dơi công việc của hai vị Tổng trấn... chính
là tránh sự xung khắc giữa Bắc với Nam, giữa Thủy với Hỏa. Khi Gia Long mất
(1819), Minh Mạng kế vị, băi bỏ chức Tổng trấn Bắc Thành và Gia Định Thành, đặt
các tỉnh trực thuộc trung ương, từ đó loạn lạc nổi lên khắp nơi: con cháu nhà Lê
ở ngoài Bắc, Lê Văn Khôi ở trong Nam...Đến đời Thiệu Trị, Tự Đức, người Pháp xâm
lăng nước ta, phủ Toàn Quyền đặt tại Hà Nội. Đó là cơ quan Trung ương lănh đạo
toàn cơi Đông Dương. Việt Nam vẫn bị chia làm ba: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ...mỗi
xứ có chế độ riêng. Bắc với Nam vẫn khác nhau.
Năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, đặt Thủ đô tại Hà Nội, chỉ 21 ngày sau th́
Sài G̣n bị quân Anh chiếm đóng, rồi Pháp trở lại Đông Dương...
Năm 1949, Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, vua Bảo Đại về nước, chính quyền
quốc gia của Quốc Trưởng Bảo đại tuyên bố chọn Sài G̣n làm Thủ đô...Chỉ mấy năm
sau, nước Việt Nam chia hai: Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa do Hồ Chí Minh lănh đạo,
đặt Thủ đô tại Hà Nội; Miền Nam Việt Nam do Bảo Đại (ủy quyền cho Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm), thủ đô tại Sài G̣n. Năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm tuyên bố thành
lập nước Việt Nam Cộng Ḥa. Hà Nội với Sài G̣n, Bắc với Nam vẫn là Thủy với Hỏa,
đối nghịch nhau! Cũng trong thời gian nầy, Cộng Sản Miền Bắc lập ra Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam để chống nhau với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm...Như vậy, trên
dải đất h́nh chữ "S" nầy vẫn có ba chính quyền, ba chính phủ, ba quốc gia...
Sau ngày 30-04-1975 , mặc dù quân Cộng Sản Miền Bắc đă thắng và chiếm đóng Sài
G̣n của Miền Nam (Việt Nam Cộng Ḥa) và trên thực tế nước Việt Nam đă được thống
nhất. Nhưng vấn đề Bắc nam vẫn c̣n tranh chấp, vẫn c̣n phân biệt. Ngay sau khi
kéo cờ đỏ sao vàng vào Sài G̣n, Cộng Sản Việt Nam vẫn cho ra đời một chính phủ
thứ hai mệnh danh là "Cộng Ḥa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam" do Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam lănh đạo, Thủ đô là Sài G̣n. Qua năm 1976, Cộng Sản Việt Nam
tuyên bố giải tán Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và Cộng Ḥa Lâm Thời Miền Nam
Việt Nam để thống nhất đất nước với danh xưng "Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam" và đặt Thủ đô tại Hà Nội th́ một Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn với lá cờ vàng
ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Ḥa (Miền Nam trước 1975) lại lớn mạnh tại hải ngoại
để chống lại chế độ Cộng Sản Việt Nam với hy vọng có một ngày trở lại quê hương.
Mặc dù không có lănh thổ, không có biên giới quốc gia nhưng Cộng Đồng Người Việt
có quốc ca, quốc kỳ riêng...th́ nó vẫn là h́nh ảnh của một quốc gia.
Theo truyền thống lịch sử nước ta, những cuộc tranh đấu chống ngoại xâm, giành
độc lập, thống nhất đất nước thường là "khởi binh từ phương Nam, đánh đuổi quân
xâm lăng phương Bắc": Từ Hai Bà Trưng (năm 42 thế kỷ thứ I) đánh quân xâm lăng
nhà Hậu Hán; Ngô Quyền (thế kỷ thứ 10) đánh quân xâm lăng nhà Nam Hán; Đinh Bộ
Lĩnh (thế kỷ thứ 10) đánh quân xâm lăng nhà Lương; Lê Hoàn tức Lê Đại Hành (thế
kỷ thứ 10) đánh quân xâm lăng nhà Tống; nhà Lư với danh tướng Lư Thường Kiệt (thế
kỷ 11), "phá Tống b́nh Chiêm"; nhà Trần với danh tướng Trần Hưng Đạo (thế kỷ
13), đánh quân xâm lăng nhà Nguyên (Mông Cổ); Lê Lợi (thế kỷ thứ 15), đánh quân
xâm lăng nhà Minh; Nguyễn Huệ (Kỷ Dậu 1789) đánh quân xâm lăng nhà Thanh và Gia
Long, cũng khởi binh từ phương Nam, tiến ra Bắc, giải quyết tranh chấp nội bộ,
diệt Tây Sơn, thống nhất đất nước (1802)...Chỉ có biến cố 30-04-1975 là đi ngược
chiều lịch sử: từ Bắc tiến vào Nam.
Trước năm 1975, ở Miền Nam có nghe câu nói "Sài G̣n mất, Gia Định c̣n!" người ta
không hiểu câu đó có ư nghĩa ǵ. Năm 1976, Sài G̣n bị mất tên, người ta mới hiểu
rằng từ khi chưa có đảng Cộng Sản ra đời th́ cũng đă có lời sấm "Sài G̣n mất tên"
rồi. Những tư tưởng chúng tôi tŕnh bày trên đây dựa theo thuyêt "địa lư lịch sử"
và "ngũ hành xung khắc" của Kinh Dịch trong Triết học Đông Phương. Chúng tôi tin
rằng đất nước chúng ta sẽ có nhiều biến chuyển và những năm gần đây chúng ta
thấy có nhiều hiện tượng lạ lùng xảy ra như báo trước những biến cố sắp xẩy đến
cho dân tộc chúng ta.
Vào hậu bán thế kỷ 19, người Pháp đến xâm lăng nước ta, chiếm ba tỉnh Miền Đông
(ḥa ước 1862) rồi đến ba tỉnh Miền Tây (ḥa ước 1868), các phong trào chống
Pháp thất bại, những người yêu nước phải thay tên đổi họ, chạy vào vùng Thất Sơn
trốn tránh, nuôi chí phục thù...Từ đó xuất hiện nhiều "ông đạo" đi khắp nơi chữa
bệnh cho đồng bào, kêu gọi mọi người sống đạo đức, yêu thương đùm bọc lấy nhau.
Người ta nói đến một "ông đạo" danh tiếng thời xưa là Đức Thầy Tây An với Tứ Ân
Hiếu Nghĩa. Rồi sau đó, trong thế kỷ 20 lại xuất hiện các tôn giáo mới như Cao
Đài, Ḥa Hảo...cùng nhau đi cổ động ḷng yêu nước, đoàn kết toàn dân...mục đích
là để bảo vệ nền đạo đức luân lư của dân tộc Việt Nam chúng ta trước nạn sóng vô
thần Cộng Sản đang ập đến. Việc làm của người xưa thật ư nghĩa! Cho đến bây giờ,
người dân Việt Nam vẫn c̣n niềm tin nơi hồn thiêng sông núi, nơi anh linh các vị
tiên liệt anh hùng dân tộc. Miền Nam chính là nơi tụ khí linh thiêng của đất
nước. Chúng tôi tin rằng từ nơi đó, người dân sẽ đứng lên làm lịch sử để đ̣i lại
tên Sài G̣n, đ̣i lại giang sơn của tổ tiên chúng ta đă dày công gầy dựng.