|
Về thăm đồng bằng sông Cửu Long Kỳ III: Ô nhiễm trên những xa lộ nâuTuesday, June 05, 2007
H́nh bên: Một ngư dân
gần biên giới Thái -
Lào. Chính quyền Trung Quốc đă cho xây hai đập trên sông
và c̣n xây thêm một số đập nữa. Ngư dân
trên
Ngô Thế Vinh
LTS.- Người Việt hân hạnh đăng tải nhiều kỳ bài kư
sự, biên khảo “Từ cầu Mỹ Thuận 2000 tới cây cầu Cần Thơ 2008” của tác
giả Ngô Thế Vinh. Bài viết này đă được đăng trên Tạp Chí Thế Kỷ 21 số
217, Tháng Năm, 2007. Xin cảm ơn tác giả đă cho phép Người Việt sử dụng
bài viết này.
CẦN THƠ - Xuống ghe từ bến Ninh Kiều, buổi sáng sớm
tinh sương, ḍng sông Hậu trải rộng mênh mông và thoáng mát. Chiếc ghe
máy chạy ngược ḍng để tới kịp hai chợ nổi Phong Điền và Cái Răng, giờ
cao điểm. Vẫn cảnh tượng các ghe thuyền lớn nhỏ từ các nhà vườn chở đầy
rau trái theo các ngả kinh rạch hướng về khu chợ nổi để bán cho lái thu
mua. Vẫn h́nh thức tiếp thị là những cây sào cao treo lủng lẳng các mẫu
nông phẩm như trái su, bắp cải, chuối dừa... là những thứ có bày bán
trong mỗi ghe. Rơ ràng thiếu cái tấp nập và phong phú của rau trái cũng
vào tháng này cách đây bảy năm: ít hơn về chủng loại và số lượng.
Thay cho bữa ăn sáng nay là một ly cà phê sữa nóng
mua từ một chiếc ghe nhỏ len lách giữa khu chợ nổi.
Đến 9 giờ sáng, ghe tàu trên sông càng thêm tấp
nập, cả thêm những chiếc ghe của công ty du lịch đưa khách du ngoạn ven
sông và lên khu chợ nổi. Rất ít ghe c̣n dùng chèo, kể cả những chiếc ghe
nhỏ cũng chạy bằng máy đuôi tôm. Những chiếc ghe bầu và sà lan chở khẳm
cát vật liệu xây dựng th́ chạy bằng máy dầu cặn. Khói dầu trải dài trên
mặt sông mùi khét nồng, cũng dễ hiểu tại sao, không phải chỉ có ở Sài
G̣n, trên sông nước Miền Tây, trên các con phà đă có cô gái Cửu Long
phải mang khẩu trang v́ không khí ô nhiễm.
Không kể những hóa chất độc đă tan trong nước không
c̣n thấy được, nh́n những búi cỏ rác khô và cả những túi rác ni lông đủ
màu chưa bị phân hủy nổi trôi giữa những đám lục b́nh, cũng để thấy rằng
con sông Mekong đang là cống rănh của các chất phế thải kỹ nghệ và cả
rác rưởi của tiện dụng gia cư. Cảnh ấy diễn ra khắp nơi: ngay trên sông
Sài G̣n từ một nhà hàng nổi, bao nhiêu đồ thải rác rến cũng được hất
xuống sông. Cảnh chiếc ghe máy bất chợt phải khựng lại v́ chân vịt vướng
đầy cỏ rác khiến tài công phải lặn sâu xuống nước để tháo gỡ. Ít nhất
hai lần như vậy chỉ trong nửa buổi sáng ngược ḍng sông Hậu.
Không chỉ trên bộ, mà cả ven sông thường thấy xuất
hiện những tấm bảng hiệu “Làng văn hóa” hay “Ấp văn hóa” nhưng cạnh đấy
vẫn là cảnh phóng uế hay xả rác xuống sông và người dân th́ vẫn dùng
nguồn nước ấy cho tắm giặt, rửa rau, nấu nướng, nghĩa là rất thiếu vệ
sinh và văn hóa. Mặt trời càng lên cao, cái nóng ẩm của khí hậu nhiệt
đới cảm nhận được từ tấm lưng thấm đẫm mồ hôi.
Vào nghỉ trưa nơi khu vườn trái cây Phong Điền sát
ngay mé sông, chủ nhân là một nhà giáo tuổi ngoài 70 đă về hưu nhưng c̣n
tráng kiện. Ông góa vợ sống với con trai và cháu nội, ông cũng có con ở
Cũng trên đường về, không xa chợ nổi Cái Răng, tôi
bảo tài công ghé ghe vào thăm một ngôi chợ ven sông, chợ Lê B́nh, tới
khu chợ cá thật nghèo nàn hơn tôi tưởng, thua xa chợ Nongkhai, Thái Lan,
nơi đây chỉ c̣n thấy những rổ cá nhỏ, cá ba sa, cá rô, lươn ếch mà đa số
là những mớ cá nuôi. Trông thật nản ḷng!
Cũng trong chuyến đi này, mỗi khi ghé vào các nhà
hàng đặc sản, câu hỏi của dân được xem là sành điệu (chưa hề được nghe
chỉ mấy năm trước đây) khiến khách phương xa phải ngạc nhiên: “Cá sông
hay cá nuôi?” Bởi v́ cá thiên nhiên bao giờ cũng ngon hơn, giống như gà
thả vườn được ưa chuộng hơn gà kỹ nghệ nuôi trong lồng. Kỹ nghệ nuôi
thủy sản đă phát triển để thay thế cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày
càng cạn kiệt, chẳng đủ để cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của con
người. Lại có nhà hàng bắt đầu quảng cáo món thịt ngựa, chắc chắn không
phải ngựa nuôi từ đồng bằng sông Cửu Long mà nhập từ Úc Châu.
Trên đường đi, với một chút kỷ luật về ăn uống như
không ăn rau sống, không dùng nước đá, chỉ uống nước đóng chai và ăn
trái cây c̣n nguyên vỏ... (giống như các chuyến đi Vân
Cạn kiệt nguồn thủy sản thiên nhiên, điều này thêm
một lần nữa xác nhận câu phát biểu của Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân, cách đây
một năm trong cuộc phỏng vấn của đài RFI (ngày 10 Tháng Mười, 2005) với
phóng viên Ánh Nguyệt: “Thủy sản sông Mekong nói chung đang giảm về
lượng mà kể cả số loài cũng giảm. Tuy nhiên hiện nay ở đồng bằng sông
Cửu Long, nguồn thủy sản sản xuất chính là do ḿnh nuôi, đánh bắt chỉ
chiếm số ít thôi. T́nh h́nh này không giống như hồi năm 1975, lúc đó có
thể nói là cá tôm rất nhiều, nhưng bây giờ nguồn thủy sản do nuôi trồng
là chính. Tính ra lượng cá xuất khẩu của Việt
Có một hiện tượng khách quan là ḍng chảy sông Cửu
Long ngày càng yếu đi ở nhiều khúc sông nhất là vào mùa khô, (ḍng chảy
đo được ở Nam Vang chỉ c̣n 1,600 m3/ giây thay v́ 2,000 m3/giây như
trước đây), khi xuống tới đồng bằng sông Cửu Long chắc c̣n yếu hơn. Có
thể do hiện tượng cạn ḍng này, khiến một số nơi bắt đầu trồi lên những
cồn cát.
Ngay ven sông Hậu, từ nhà hàng Hoa Sứ nh́n ra, dân
địa phương cho biết giữa sông đang tạo h́nh một cồn cát chưa đủ cao để
nhô lên khỏi mặt sông, nhưng ghe tàu đi qua phải tránh để khỏi mắc cạn.
Người ta chỉ đơn giản cho đó là hiện tượng thiên nhiên. C̣n yếu tố nhân
tạo th́ sao? Không ai thắc mắc và nghĩ tới.
Lại đang có thêm một phong trào rất tự phát, là tư
nhân “xây kè” lấn sông không phải để ngăn lở mà để có thêm đất. Ngay từ
nhà hàng Hoa Sứ ấy, lấn ra sông cả năm mét, người ta đang xây một tấm vỉ
xi măng cốt sắt kiên cố ngăn sông mà dân địa phương gọi là “kè”. Ai cho
phép và ai có phương tiện sắt thép xi măng để thực hiện một công tác đại
trà ấy nếu không phải là thế lực của các đại gia hay cán bộ cao cấp?
Điều đó đang diễn ra trước mắt và hàng ngày. Liệu có cần bộ luật mới để
bảo vệ và cứu lấy những ḍng sông trước nguy cơ?
(Kỳ sau: “Cây cầu Cần Thơ và gói thầu Trung Quốc”) |