Về thăm đồng bằng sông Cửu Long (kỳ II): Đại Học An Giang lên sáu tuổi
Monday, June 04, 2007

medium_VN_voTongXuan.jpg

Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân, hiệu trưởng trường Đại Học An Giang. (H́nh: www.salzburgseminar.org)

Ngô Thế Vinh

LTS.- Người Việt hân hạnh đăng tải nhiều kỳ bài kư sự, biên khảo “Từ cầu Mỹ Thuận 2000 tới cây cầu Cần Thơ 2008” của tác giả Ngô Thế Vinh. Bài viết này đă được đăng trên Tạp Chí Thế Kỷ 21 số 217, tháng Năm, 2007. Xin cảm ơn tác giả đă cho phép Người Việt sử dụng bài viết này.

AN GIANG - Về lại Cao Lănh để đi An Giang, nơi có khu di chỉ Ốc Eo thuộc Vương Quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến VI, Long Xuyên với Đại Học An Giang là nơi tôi có hẹn gặp Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân.

Đă từng tới Long Xuyên, trở lại thăm để ngạc nhiên thấy một Long Xuyên, thị xă của tỉnh An Giang đă có rất nhiều đổi thay và phát triển.

 

Năm 1970, khi Giáo Sư Đỗ Bá Khê đọc bài diễn văn tốt nghiệp khóa đầu tiên của Đại học Cần Thơ, th́ lúc đó An Giang chỉ mới có Trường Sư Phạm Long Xuyên với bốn lớp và 260 giáo sinh. Phải 30 năm sau, do con số hơn 40 ngàn học sinh tốt nghiệp trung học mỗi năm tại đồng bằng sông Cửu Long, trước t́nh trạng quá tải của đại học Cần Thơ, trường đại học An Giang (ĐHAG) được phép thành lập vào Tháng Mười Hai, năm 1999, rồi công tŕnh xây cất ĐHAG được khởi công Tháng Giêng 2001, năm đầu tiên của thế kỷ 21, với kinh phí $35 triệu trên trên một diện tích 40 hecta. ĐHAG được hỗ trợ tài chánh từ địa phương nhưng vẫn chịu sự giám sát chuyên môn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo trung ương.

 

Sau đại học Cần Thơ, được ra đời vào những năm 1960, ĐHAG là trường đại học công lập thứ hai, được xem là trường đại học trẻ trung nhất đồng bằng sông Cửu Long.

 

Lănh đạo nhà trường ngay từ bước đầu chập chững là một khuôn mặt quen thuộc và thân thương đối với bà con nông dân đồng bằng sông Cửu Long: đó là Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân, từng là phó viện trưởng đại học Cần Thơ, ông cũng được biết tới từ trước 1975 như cha đẻ của lúa cao sản Thần Nông HYV (cao sản, ngắn ngày), là một giống lúa thân lùn với năng suất rất cao. Đưa lúa Thần Nông vào đồng bằng sông Cửu Long được coi như “bước đột phá” chống đói giảm nghèo mà Viện Lúa Gạo Quốc Tế IRRI gọi đó là Cuộc Cách Mạng Xanh về lúa gạo. Với một con chim đầu đàn như thế, người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy ĐHAG đang phát triển theo hướng kết hợp giảng dạy, nghiên cứu ứng dụng vào công ích. Một thứ quan niệm R&D (Research and Development) trong các đại học Mỹ.

 

Trước khi gặp Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân, không người hướng dẫn, tôi đă tự xông xáo đi thăm các cơ sở nhà trường, giảng đường, thư viện và dĩ nhiên cả gặp gỡ nói chuyện riêng với một số em sinh viên: các em rất trẻ mộc mạc, ăn mặc giản dị, cách nói chuyện chất phác, và đặc biệt là lễ phép với khách lạ đến thăm. Phải chăng đó là nét đẹp từ một nền văn minh miệt vườn. Chắc chắn các em không phải con của các “đại gia hay cán bộ cao cấp” của đồng bằng sông Cửu Long, bởi v́ tệ lắm nếu không là đại học Sài G̣n th́ cũng đă là những sinh viên du học “tự túc” ở các nước Âu Mỹ, nhất là Mỹ.

 

Các em là thế hệ khá thiệt tḥi, sinh ra và lớn lên nơi vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long sau chiến tranh nhưng lại chỉ được hấp thụ một nền giáo dục trung và tiểu học thấp kém nhất nước, do thiếu lớp học thiếu thầy cô giáo, thua cả Tây Nguyên, theo nhận xét của chính các nhà giáo dục trong nước. Tốt nghiệp trung học trong một t́nh trạng mất căn bản như vậy, khi bước lên đại học, chỉ có ḷng hiếu học cao độ mới giúp các em vượt qua được khoảng cách đại dương ấy.

 

ĐHAG hiện có tầm vóc khiêm tốn của một Đại Học Cộng Đồng (Community City College) c̣n đang phát triển. Quanh sân trường, đây đó c̣n những đống gạch cát của công tŕnh đang xây cất dở dang. Thư viện khá đẹp như khuôn mặt chính của nhà trường với hai tầng lầu, gọn sạch ngăn nắp, tổ chức sắp đạt theo tiêu chuẩn Mỹ, với cả một giàn máy điện toán PC cho sinh viên sử dụng. Sinh viên nam nữ tự động sắp hàng trật tự trước các quầy để mượn và trả sách. Sách mới, sách khoa học tiếng Anh phải kể là c̣n rất ít nhưng bù lại các em đă biết truy cập vào Internet để có một số thông tin mà các em cần.

 

Buổi sáng, bước vào một giảng đường lớn, đông đảo sinh viên thuộc nhiều khoa và các lớp khác nhau, trên bục giảng là Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân, với đề tài rất cơ bản “Phương pháp khoa học và lộ tŕnh nghiên cứu.” Cho dù đi vào từ phía sau giảng đường cũng không c̣n một chỗ trống, một em tự động đứng dậy nhường chỗ cho khách (sau này có dịp nói chuyện, tôi được biết đó là một sinh viên năm thứ tư sắp ra trường).

 

Bài giảng khúc chiết và dễ hiểu để ứng dụng đối với các sinh viên khi phải làm một luận văn, một thứ luận án nhỏ như điều kiện để tốt nghiệp ra trường. Luận văn ấy sẽ là nỗ lực cá nhân của sinh viên hướng về giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến phát triển kinh tế xă hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Riêng với tôi th́ phần lư thú nhất trong bài giảng sáng hôm đó vẫn là những ví dụ nghiên cứu về “lúa gạo” của nhà nông học Vơ Ṭng Xuân.

 

Sau lớp học, tôi được gặp anh Xuân. Tuy gặp nhau lần đầu tiên nhưng từ nhiều năm “văn kỳ thanh”, tôi đă theo dơi những bước đi của anh, anh cũng đă là nguồn cảm hứng về “nhân vật” khi tôi viết “Cửu Long cạn ḍng”, chúng tôi đă có ngay một mẫu số chung để nói chuyện với nhau. Phong cách giản dị, không nghi thức, anh Xuân tự tay pha trà tiếp tôi trong văn pḥng hiệu trưởng, mà tôi th́ vẫn quen gọi là viện trưởng, căn pḥng khá nhỏ, trông lại càng nhỏ chật hơn với ngập những sách. Trong số sách ấy, tôi cũng thấy cuốn “Cửu Long cạn ḍng”, ấn bản đầu tiên của nhà xuất bản Văn Nghệ năm 2000, cũng là thời điểm đại học An Giang mới tuổi “thôi nôi.”

 

Buổi trưa hôm ấy, tôi đă ngồi Honda ôm với anh Vơ Ṭng Xuân thay v́ xe hơi, để xuống phố cùng với mấy cộng sự trẻ của anh dùng bữa ăn trưa với canh chua cá bông điên điển, cá kho tộ và có cả gỏi tôm ngó sen, toàn những món đặc sản của đồng bằng sông Cửu Long.

 

Sau bữa ăn trưa ngắn ngủi, nửa ngày c̣n lại là một ngày ngập bận rộn của anh Xuân. Anh để tôi tùy nghi chọn lựa tham dự các sinh hoạt. Như buổi tŕnh luận án cấp trường của một giảng viên ĐHAG do anh Xuân chủ tŕ. Luận án liên quan tới những con số thống kê, những khiếm khuyết trong cách thu thập và phân tích dữ kiện đều được hội đồng giám khảo nhận xét, thí sinh có cơ hội được phản biện; cuối cùng th́ thang điểm được cộng lại: chỉ đạt 52% số điểm có nghĩa là luận án không được thông qua. Cùng một lúc ở một giảng đường khác, là một buổi nói chuyện của một kỹ sư người Mỹ gốc Việt từ Florida về, dùng laptop và power point để giới thiệu với sinh viên về chiếc máy sấy lúa “tiết kiệm” do anh sáng chế. Cũng buổi chiều hôm ấy, có hai phái đoàn khách tới thăm, một đoàn từ đại học USC (University of Southern California) tới đây, ai cũng muốn được gặp Giáo Sư Vơ Ṭng Xuân.

 

Giáo Sư Xuân có những cộng sự viên trẻ, tốt nghiệp ở ngoại quốc từ nhiều nguồn khác nhau, lớp trẻ này có kiến thức khả năng và nhiệt t́nh nhưng chưa tới tầm vóc để có thể thay anh. Họ về với anh Xuân, về với ĐHAG v́ họ biết đó là tương lai. Với tŕnh độ chuyên môn và khả năng ngoại ngữ ấy nếu đi làm cho các công ty tư nhân ngoại quốc như Đài Loan, Đại Hàn chắc chắn họ sẽ với một số lương bổng cao hơn gấp nhiều lần. Cô giám đốc pḥng giao dịch quốc tế là một Ph.D. về giáo dục về từ đại học USC. Tổ chức thư viện và thiết kế website của ĐHAG là một kỹ sư có bằng MSc. tốt nghiệp ngành vi tính (computer sciences) từ một đại học miền Đông Hoa Kỳ, cho dù nhiệm vụ chính của anh vẫn là giảng dạy về Tin Học; được biết anh cũng vừa được một đại học Úc Châu nhận vào chương tŕnh Ph.D. trong năm tới. Cô nhà báo H.V., xuất thân từ báo Tuổi Trẻ, tác giả nhiều bài kư và những bức h́nh chụp sinh động, nay cũng đă tự nguyện về với ĐHAG, cô ấy cũng được khuyến khích đi học thêm về báo chí ở đại học Columbia, New York.

 

Ngoài ra, c̣n phải kể tới nguồn “voluntary faculty,” những giáo sư ngoại quốc thỉnh giảng t́nh nguyện. Giáo Sư Xuân cho biết tuy là trên căn bản tự nguyện nhưng ĐHAG vẫn t́m cách trả lương họ theo quy chế.

Một “sự cố vui bên lề” là đă có một ông giáo sư thỉnh giảng đến với ĐHAG nhưng v́ “đi một về hai” nên nhà trường đă có một tổn thất phụ (collateral damage) về nhân sự.

 

Nhiệm vụ của ĐHAG, cùng với đại học Cần Thơ, là đào tạo nguồn nhân lực và nhân tài cung ứng cho các bước phát triển kinh tế và xă hội của đồng bằng sông Cửu Long nhằm “tăng cường khả năng hợp tác và cạnh tranh, khả năng hội nhập vào thị trường quốc tế” khi Việt Nam sắp chính thức gia nhập WTO.

 

T́nh trạng thực tế hiện nay, tỉnh An Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung không chỉ thiếu cán bộ có tŕnh độ đại học và trên đại học trong các ngành kinh tế xă hội mà c̣n rất thiếu cả một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề trong các lănh vực công nghiệp chế biến thủy sản và nông phẩm, công nghệ sinh học và phát triển du lịch.

 

Với hướng đi từ nay tới 2010, dự trù sĩ số sinh viên sẽ lên tới 10,000 với chương tŕnh đào tạo bốn năm cho các ngành như sư phạm, canh nông, công nghệ thực phẩm thủy sản, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ sư điện toán, kỹ thuật môi trường-environment engineering, quản trị kinh doanh nông thôn... và mục tiêu đào tạo là làm sao đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các thành phần kinh tế (biện pháp đào tạo theo-địa-chỉ các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân chứ không phải với tương lai sinh viên tốt nghiệp chỉ là những công chức nhà nước).

 

Phải nói rằng số lượng giảng viên hiện nay của nhà trường c̣n rất hạn chế, với sĩ số 600 chỉ có 50% có bằng cao học (Master) và một số rất ít tiến sĩ (Ph.D). Qua các em, tôi được biết Giáo Sư Xuân không ngừng khuyến khích và t́m cơ hội gửi các giảng viên trẻ của ĐHAG đi ngoại quốc học thêm để tăng cường chất và lượng cho ban giảng huấn. Và cũng có cả kế hoạch thu hút thêm những nguồn chất xám mới đổ về. Nhiều hứa hẹn nhưng cũng thật nhiều thách đố cho một đại học c̣n non trẻ như ĐHAG.

Ngoài chức vụ lănh đạo ĐHAG, riêng Giáo Sư Xuân c̣n những dự án dở dang khác:

        (1) t́m gene giống lúa mới chịu được nước lợ cho “Cửu Long cạn ḍng” và thêm nhiễm mặn;

(2) vận động nông dân ĐBSCL áp dụng kế hoạch “ba giảm ba tăng” trong đó có giảm thuốc trừ sâu rầy để giảm nhiễm độc đă tới mức độ nguy hiểm cho môi trường sống;

(3) lập khu bảo tàng cây lúa ĐBSCL với sưu tập tất cả các nông cụ mà tiền nhân đă sử dụng từ thủơ khai hoang.

Và c̣n nhiều nữa, Giáo Sư Xuân có theo dơi và biết rơ hậu quả những con đập Vân Nam và các dự án chuyển ḍng lấy nước sông Mekong của Thái Lan ra sao trên đồng bằng sông Cửu Long, mà theo anh, Việt Nam cũng chẳng thể phản đối được ǵ. Trước nghịch cảnh, anh t́m cách làm sao để biến những “bất cập” hiện nay thành “thuận lợi” như phát triển ngành nuôi “tôm sú”, nuôi “cua biển” nơi vùng nước lợ đem lợi tức cho nông dân cao hơn là trồng lúa; áp dụng kỹ thuật tưới luân phiên mà vẫn bảo đảm năng suất lúa ở vùng thiếu nước khi Cửu Long cạn ḍng... H́nh như lúc nào anh Xuân cũng thiếu thời gian cho một ngày chỉ có 24 giờ, bản chất người Nam, anh vẫn lạc quan; luôn luôn nh́n thấy nửa phần đầy của ly nước thay v́ là nửa phần vơi.

 

Tre già măng mọc, Giáo Sư Xuân đang lo vun trồng thế hệ măng tiếp nối anh. Hẹn ngày tái ngộ với ĐHAG, lần tới khi trở lại đồng bằng sông Cửu Long mong sẽ có dịp đến thăm “Bảo Tàng Cây Lúa” của Giáo Sư Xuân.

 

(Kỳ sau: “Ô nhiễm trên những xa lộ nâu”)